Chương 13: Bên kia kênh đêm Rằm tháng Bảy
Rằm tháng Bảy năm nào má cũng đi chùa dưới Sóc Trăng. Thy biết điều đó như biết Tết thì gói bánh tét, như biết mùa mưa thì mái tôn nhà mình dột chỗ góc bếp. Hồi nhỏ má dắt cô theo ba lần, lần nào cũng vậy. Đi chuyến xe sớm, xuống một ngôi chùa lớn có cây bồ đề cổ thụ, má thắp nhang, quỳ lâu ơi là lâu. Rồi hai má con ra ngồi ở một quán chè bên bờ kênh tới chiều tối mới về. Năm cô lên mười, má không dắt nữa, nói con lớn rồi ở nhà coi nhà. Từ đó má đi một mình. Hai mươi mấy năm, chưa năm nào bỏ.
Sáng thứ Bảy, Rằm tháng Bảy, má dậy từ bốn giờ, không nhóm lò bánh. Má mặc cái áo bà ba lụa màu tím than, thứ má chỉ mặc đám cưới, đám giỗ, rồi ngồi chải tóc trước cái gương nhỏ treo trên vách.
Thy đứng ở chân cầu thang, tay xách cái túi nilon đựng cái áo khoác bông màu xanh than có thêu chữ Dư Ký trên ngực.
– Con đi với má.
Má nhìn cô qua cái gương.
– Thôi. Con ở nhà.
– Con có việc dưới đó. Con trả cái áo này cho lò. Bữa kiểm kê người ta cho mượn, con hứa trả mà chưa trả.
Má nhìn cái túi nilon, rồi nhìn mặt cô. Má biết cô nói thật, và biết cô không chỉ nói thật. Má gài cây kẹp tóc, đứng dậy.
– Đi thì đi.
Hai má con ngồi chung một băng ghế trên chuyến xe khách năm giờ rưỡi. Má ngồi phía cửa sổ, ôm cái giỏ nhựa đựng nhang, đèn cầy, một chùm nhãn, một bịch bánh in. Suốt sáu chục cây số, má nhìn ra ngoài, không nói. Thy ngồi nhìn hai bàn tay má đặt trên quai giỏ, những đầu ngón tay chai sạn, cái móng tay cái nứt một đường dọc vì hơi nóng lò than.
Tới Sóc Trăng, má đi thẳng tới ngôi chùa có cây bồ đề cổ thụ. Sân chùa đông nghẹt, khói nhang mù mịt, người ta xếp hàng dài trước chánh điện, tay cầm hoa, tay cầm nhang. Mấy đứa nhỏ cài hoa hồng trên ngực áo, đứa cài hoa đỏ, đứa cài hoa trắng. Má cài một bông hồng trắng. Thy nhìn bông hồng trên ngực áo má, nhớ ra từ nhỏ tới lớn chưa bao giờ thấy má cài hoa đỏ. Ông bà ngoại mất từ trước khi cô sinh ra.
Má thắp nhang, quỳ. Thy đứng ở hành lang ngoài, nhìn lưng má. Má quỳ lâu, lâu tới mức một bà cụ đứng gần đó đi lại hỏi cô: con ơi má con có sao không. Thy nói má con không sao, má con cầu lâu vậy quen rồi.
Trưa, hai má con ăn cơm chay ở nhà ăn của chùa. Ba giờ chiều, má đứng dậy, phủi quần.
– Con đi trả áo đi. Má ngồi đây chờ con. Trả xong ra bến xe, má ra sau.
– Má không về chung với con?
– Má còn ghé chỗ này.
– Chỗ nào?
– Chỗ quen. – Má nói, và má cười, cái cười mỏng như lá lúa. – Con đi đi.
Thy đi ra cổng chùa. Cô đứng ở góc đường, sau một xe bán nước mía, chờ mười phút. Má đi ra, không quay lại nhìn, đi bộ về phía kênh Maspero. Thy đi theo, cách một khúc đường, như cô đã đi theo một con số lạ qua mười mấy cuốn sổ cái.
Má đi dọc bờ kênh, qua cái chợ, qua dãy nhà phố cũ, qua cây cầu sắt sơn xanh. Má không qua cầu. Má đi tiếp, đi dọc bờ bên này, cho tới khi tới một khúc kè có một cây bàng già, gốc to cỡ hai người ôm, rễ trồi lên mặt đất như những ngón tay. Má đứng lại dưới gốc bàng.
Thy đứng sau một cái quán tạp hoá cách đó bốn chục mét, nhìn theo hướng mắt má.
Bên kia kênh, đúng ngay trước mặt má, là lưng của lò bánh họ Dư. Cái bến nhỏ có mấy bậc thang đá. Mấy ô cửa sổ lầu hai, lầu ba. Cái mái tôn của gian lò, cái ống khói quạt hút gió. Đứng từ gốc bàng này, nhìn qua mặt nước rộng chừng ba chục mét, thấy rõ từng ô cửa.
Má đứng đó. Không ngồi, không dựa, không quay lưng. Một tiếng. Hai tiếng. Người đi ngang nhìn má, một bà già áo bà ba tím than cài bông hồng trắng, đứng dưới gốc bàng nhìn sang bên kia kênh. Không ai hỏi. Rằm tháng Bảy, người ta đứng nhìn đâu đó lâu là chuyện thường.
Thy đứng sau cái quán tạp hoá, mua một chai nước, rồi một bịch đậu phộng, rồi một chai nước nữa, để bà chủ quán khỏi thắc mắc. Chân cô mỏi. Lưng cô ướt mồ hôi. Cô không bỏ đi.
Tới chai nước thứ hai, bà chủ quán, một bà già người Khmer nói tiếng Việt lơ lớ, ngồi quạt trên cái ghế bố, hất hàm về phía gốc bàng:
– Con kiếm bà đó hả?
Thy giật mình.
– Dạ… sao bà biết?
– Con đứng đây coi bả từ nãy giờ. – Bà chủ quán cười, nhai trầu bỏm bẻm. – Bả năm nào cũng tới. Rằm tháng Bảy một lần, Rằm tháng Mười một lần, bữa đua ghe. Đứng y chỗ đó, nhìn qua bển. Tui bán ở đây mười bốn năm, năm nào cũng thấy. Có năm mưa, bả che cây dù đứng. Tui hỏi bả đứng chi, bả nói đứng coi nhà người quen.
– Bà có hỏi người quen nào không?
– Hỏi chi con. – Bà chủ quán nói, y như ông Tư Tiêu nói. – Ai cũng có cái nhà người quen để đứng coi.
Năm giờ rưỡi, trời bắt đầu ngả vàng. Bên kia kênh, phía mặt tiền lò bánh, có tiếng con nít la ó. Từ chỗ Thy đứng không thấy được mặt tiền, chỉ thấy đầu hồi nhà và một khúc vỉa hè ló ra ở góc phố. Nhưng căn nhà nằm ngay góc, mặt tiền nhìn ra con đường dẫn lên cầu sắt, nên từ gốc bàng của má nhìn xiên qua mặt kênh, thấy được trọn cái vỉa hè.
Thy bước ra khỏi chỗ nấp vài bước, đi tới mép kè, nhìn qua.
Trên vỉa hè trước cửa hàng Dư Ký, người ta kê một cái bàn dài trải khăn trắng. Trên bàn bày một mâm cúng cô hồn lớn: mấy chén cháo trắng, một rổ khoai lang luộc, mấy khúc mía lóc vỏ, một dĩa gạo, một dĩa muối, mấy xấp tiền vàng. Nhiều nhất là bánh kẹo, chất cao như núi. Hai bên mâm cắm hai cây nhang to, khói bay ngang theo gió kênh. Lũ con nít trong xóm đứng thành vòng tròn quanh cái bàn, đứa nào cũng cầm sẵn cái bịch nilon, nhấp nha nhấp nhổm.
Thiệu đứng trước mâm. Anh mặc áo sơ mi trắng, tay cầm ba cây nhang, khấn. Anh khấn lâu, rồi cắm nhang lên bát, lùi lại hai bước, chắp tay vái ba cái. Chú Ba Phát đứng sau lưng anh, cười cười nói với mấy người hàng xóm. Bà Hoa đứng ở cửa hàng, tay cầm cái quạt.
Rồi Thiệu quay lại, gật đầu với lũ con nít. Cả bầy nhào tới. Kẹo bánh văng tứ tung, tiếng la hét, tiếng cười, mía bị giựt mất, khoai lang lăn xuống lề đường. Một thằng nhỏ cỡ bốn tuổi đứng ngoài vòng, giành không lại, mếu máo. Thiệu thấy, cúi xuống, lượm một nắm kẹo rơi dưới chân bàn, nhét vô túi áo nó, xoa đầu nó.
Thy nghe một tiếng nấc rất nhỏ.
Cô quay lại. Dưới gốc bàng, cách cô chừng ba chục bước, má đứng nhìn qua bên kia kênh. Má không chùi nước mắt. Nước mắt chảy dài xuống hai gò má, chảy xuống cằm, nhỏ xuống ngực áo, chỗ bông hồng trắng. Má không chớp mắt. Má nhìn cái vỉa hè bên kia như nhìn một thứ đang trôi đi trên mặt nước mà mình không với tới được.
Thy đứng sững. Cô không biết mình nên bước tới hay lùi lại. Trong đầu cô có một ý nghĩ đi rất nhanh, và cô cầm lấy nó, vì nó là ý nghĩ duy nhất hợp lý: má đứng nhìn căn nhà nơi cha ruột của cô từng sống. Má đứng đây mỗi năm một lần, nhìn căn nhà đó, khóc cho một chuyện đã xảy ra trong căn nhà đó, chuyện mà má thề không bao giờ nói.
Bên kia kênh, Thiệu đứng thẳng lưng lên sau khi xoa đầu thằng nhỏ. Anh nhìn quanh, nhìn ra mặt kênh, như người ta vẫn nhìn ra mặt nước khi vừa làm xong một việc. Rồi anh dừng lại.
Anh thấy má.
Thy thấy anh nheo mắt. Thấy anh nghiêng đầu, như để chắc là mình không nhìn lầm. Rồi anh dúi nắm kẹo còn lại vô tay thằng nhỏ, nói gì đó với chú Ba, và đi nhanh về phía cây cầu sắt.
Dưới gốc bàng, má cũng thấy anh. Má quay lưng đi liền, bước thật nhanh, gần như chạy, về phía ngược lại với cây cầu, cái giỏ nhựa đập vô hông.
Thy chạy ra đầu cầu. Cô tới chân cầu bên này cùng lúc Thiệu xuống tới chân cầu, hai người suýt đâm sầm vô nhau.
– Thy? – Anh khựng lại. – Em… Cô Bảy…
– Để má đi.
– Cô Bảy đứng bên đó bao lâu rồi?
– Hai tiếng.
– Hai tiếng? Đứng nhìn cái gì?
Thy nhìn anh. Mặt anh đỏ vì chạy, mồ hôi rịn trên trán, một chút tro nhang còn dính trên vai áo sơ mi trắng. Cô nhìn dọc bờ kè, về phía má đã khuất sau dãy nhà phố.
– Nhìn nhà anh. – Cô nói. – Năm nào má em cũng đi chùa dưới Sóc Trăng. Năm nào cũng vậy. Em mới biết là đi chùa xong thì má đứng ở đây.
Thiệu quay lại nhìn về phía gốc bàng, giờ trống trơn. Anh không nói gì. Hai người đứng ở chân cầu, giữa người đi chợ chiều, xe máy chạy ngang bóp còi.
Thy chìa cái túi nilon ra.
– Áo khoác. Bữa kiểm kê. Em hứa trả.
Anh cầm cái túi, mở ra nhìn. Cái áo được giặt sạch, gấp vuông vức, có mùi xà bông.
– Em còn giữ.
– Em hứa trả mà.
Anh gật đầu, ôm cái túi trước ngực. Thy nhìn qua vai anh một lần nữa, và thấy chú Ba Phát đứng ở góc vỉa hè trước cửa hàng, cách chừng năm chục mét, tay giơ điện thoại lên ngang mặt, hướng về phía chân cầu. Chú thấy cô nhìn, hạ điện thoại xuống, cười, vẫy tay, rồi quay vô nhà.
– Anh. – Thy nói. – Chú Ba.
Thiệu quay lại. Vỉa hè trống trơn. Chỉ còn lũ con nít ngồi chia kẹo.
Thy về bằng chuyến xe bảy giờ tối. Má đã ngồi ở bến xe từ trước, trên băng ghế sắt, ôm cái giỏ nhựa trống không. Má không hỏi cô đi đâu. Cô không nói mình đã thấy gì. Hai má con ngồi chung một băng ghế trên xe, như hồi sáng. Xe chạy ra quốc lộ, đèn đường lùi lại phía sau, ruộng lúa tối đen hai bên.
Đi được nửa đường, má nói, mắt vẫn nhìn ra cửa sổ:
– Nhà đó cúng cô hồn mâm lớn nhất xóm. Hồi xưa má bày.
— Hết chương 13 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe