Chương 4: Khoản chi tháng nào cũng có
Bốn triệu đồng. Ngày mùng năm. Tháng nào cũng có.
Thy dò tới dòng thứ ba trăm mười hai trên sao kê ngân hàng năm 2023 thì thấy nó lần đầu, và lúc đầu cô không để ý. Một khoản chi bốn triệu giữa hàng trăm khoản chi tiền điện, tiền bột, tiền ga, tiền lương thời vụ, nhỏ tới mức nằm lọt thỏm như hột mè trong mâm xôi. Cô đánh dấu nó vì một lý do rất nhàm: trên sổ cái, nó được hạch toán vô "chi phí khác", và dòng diễn giải chỉ ghi mấy chữ "trợ cấp người làm cũ".
Kiểm toán không thích chữ "khác". Chữ "khác" là chỗ người ta bỏ những thứ không biết bỏ đâu.
– Bửu, em lọc giùm chị trên sổ cái ba năm, tất cả các khoản có chữ "trợ cấp".
Thằng Bửu gõ một hồi, xoay màn hình qua.
– Có ba mươi sáu dòng chị. Ba năm, mỗi tháng một dòng, dòng nào cũng bốn triệu, dòng nào cũng ngày mùng năm. Không có khoản trợ cấp nào khác.
– Người nhận?
– Sổ cái không ghi. Phải coi uỷ nhiệm chi.
– Em xin chị Hảo bộ uỷ nhiệm chi tháng Ba năm 2022, tháng Bảy năm 2023, tháng Mười Một năm 2024.
Bửu đi xuống. Thy ngồi lại, chống cằm nhìn ra cửa sổ. Dưới kênh Maspero, một chiếc ghe chở dừa khô chạy ngang, máy nổ tạch tạch, để lại hai lằn sóng chéo chạm vô chân kè. Trưa thứ Năm nắng gắt, mặt nước loá như thiếc.
Ba mươi sáu dòng, mỗi dòng bốn triệu, cộng lại một trăm bốn mươi bốn triệu trong ba năm. So với doanh thu một trăm chín chục tỷ một năm, con số đó không đáng một dấu phẩy trên báo cáo. Nếu cô là người khác, cô sẽ ghi một dòng "không trọng yếu" rồi đi tiếp. Nhưng cô học được từ năm thứ nhất: thứ nhỏ mà không ai ký mới đáng hỏi, vì thứ lớn thì ai cũng nhìn.
Bửu lên với ba tờ uỷ nhiệm chi kẹp trong bìa nhựa, kèm theo một câu:
– Chị Hảo nói khoản này của bà nội, chú Sáu lo. Chị Hảo không biết gì, nó có từ trước khi chị Hảo vô làm. Tháng nào chú Sáu cũng đưa tờ lệnh qua, chị Hảo chỉ việc chuyển.
– Chú Sáu là ai?
– Kế toán cũ của lò. Nghỉ hưu mười năm rồi mà vẫn giữ mấy cái sổ riêng của bà.
Thy lật tờ thứ nhất. Uỷ nhiệm chi ngày mùng năm tháng Ba năm 2022. Đơn vị trả tiền: Công ty TNHH Dư Ký. Số tiền: bốn triệu đồng chẵn. Nội dung: trợ cấp tháng ba. Người hưởng: DOAN THI LAI. Ngân hàng của người hưởng: một chi nhánh ở Cần Thơ.
Cô đọc dòng tên người hưởng hai lần. Rồi cô nhắc mình: Đoàn Thị Lài là cái tên bình thường như cây lúa. Hồi học cấp hai, lớp cô có hai đứa tên Đoàn Thị Lài ở hai xóm khác nhau. Ở Cần Thơ có bao nhiêu bà Đoàn Thị Lài đi bán chợ, cô không biết, nhưng chắc chắn không phải một.
Bà cụ trên xe lăn nói: dưới này cũng nhiều người tên Lài.
Cô lật tờ thứ hai, tờ thứ ba. Tên người hưởng y vậy. Chi nhánh y vậy. Số tài khoản thì in nhỏ dưới tên, mười ba chữ số, mực máy in đã hơi nhoè. Thy kéo tờ giấy lại gần cửa sổ.
Bốn chữ số cuối là 0710.
Cô biết bốn chữ số đó. Cô biết từ hồi năm hai đại học, khi lần đầu cô đi làm thêm ở quán cà phê, nhận tháng lương đầu tiên một triệu tám. Cô ra ngân hàng đứng xếp hàng, viết tay mười ba con số lên tờ giấy nộp tiền để gửi về cho má năm trăm nghìn. Lúc đó cô cầm cái thẻ má đưa, má nói: số dài quá, con nhớ bốn số cuối thôi cho khỏi chuyển lộn ai, không bảy một không, đọc lên nghe như số nhà. Sau này cô chuyển qua ứng dụng trên điện thoại, máy lưu sẵn, không cần gõ. Nhưng 0710 thì cô vẫn nhớ, như nhớ tên đường nhà mình.
– Chị? – Bửu hỏi. – Chị sao vậy?
– Không sao. – Thy đặt tờ giấy xuống, úp mặt nó xuống bàn. – Bửu, em làm tiếp phần công nợ phải thu đi. Phần này chị làm.
– Dạ.
Cô ngồi im một lúc rất lâu, nhìn lưng tờ giấy trắng. Rồi cô làm cái việc mà người làm nghề phải làm: cô không tin trí nhớ. Bốn con số cuối chưa đủ. Hai tài khoản ở hai ngân hàng khác nhau có thể trùng bốn số cuối. Cô cần mười ba số. Mà mười ba số của tài khoản má, cô không nhớ, máy nhớ thay cô. Cô lật tờ giấy lên, chụp lại một tấm, rồi úp xuống như cũ.
Cô không mở điện thoại. Chưa. Cô chưa muốn biết, và cô biết rõ mình chưa muốn biết, và cô ghét cái cảm giác đó.
Chiều, cô xuống phòng kế toán hỏi chị Hảo về kho lưu trữ.
– Sổ sách trước năm 2015 thì trên gác kho đằng sau, mà lâu rồi không ai lên. – Chị Hảo nói, lau mắt kính. – Em cần chi tới sổ cũ dữ vậy? Phạm vi của em có ba năm thôi mà.
– Dạ, em coi khoản trợ cấp có từ hồi nào. Nếu có từ lâu thì em ghi là chi phí lặp lại, khỏi hỏi nhiều.
Câu đó nửa thật nửa không. Chị Hảo gật, dẫn cô ra gác kho.
Gác kho nằm trên dãy nhà thấp phía sau sân giếng, leo lên bằng một cái cầu thang gỗ dựng đứng, bậc nào cũng kêu. Trên gác nóng hầm, mùi giấy mục, mùi phân chuột, mùi long não. Mấy cái kệ sắt xếp bìa còng đánh số năm từ 2014 trở về trước, phủ một lớp bụi mịn như bột. Ở góc trong cùng có một cái tủ gỗ đen khoá ống đồng.
– Tủ đó của chú Sáu. – Chị Hảo nói. – Chị không có chìa.
– Dạ, em coi kệ được rồi.
Cô kéo bìa còng sổ quỹ tiền mặt năm 2014. Hồi đó lò chưa chuyển khoản, khoản trợ cấp chi bằng tiền mặt, trên phiếu chi ghi "trợ cấp Đ.T.Lài", một triệu năm trăm nghìn, người nhận tiền ký thay: Phùng Văn Lợi. Năm 2010, cũng vậy, một triệu năm. Năm 2005, tám trăm nghìn. Năm 2001, bốn trăm. Bìa còng cũ hơn nữa không có trên kệ. Cô mở tới cái kệ thấp nhất, lôi ra một cuốn sổ bìa cứng màu xanh lá đã bạc thành màu rêu, gáy sổ dán băng keo, trên gáy viết bằng mực tím: "Sổ quỹ – 1999".
Chị Hảo đã xuống từ lúc nào. Thy ngồi bệt xuống sàn gỗ, lật cuốn sổ trên đùi.
Chữ viết tay nghiêng, đều, của một người viết sổ cả đời. Tiền bột, tiền đường, tiền củi, tiền công. Tháng Chín, tháng Mười năm đó là mùa Trung thu, trang nào cũng kín. Cô dò ngón tay xuống từng dòng. Cuối tháng Mười, dòng gần chót:
"Trợ cấp Đ.T.Lài, tháng 10 – 300.000đ. Theo lời bà."
Không có dòng nào trước đó. Cô lật ngược về tháng Chín, tháng Tám, tháng Bảy. Không có. Khoản trợ cấp bắt đầu từ tháng Mười năm 1999.
Tháng Mười năm 1999 là tháng cô sinh ra. Giấy khai sinh của cô ghi ngày mùng hai tháng Mười năm 1999.
Cô ngồi trên sàn gác cho tới khi mồ hôi chảy dọc sống lưng ướt đẫm cả áo. Dưới sân, có ai đó kéo nắp giếng, tiếng xi măng cạ xi măng kêu rèn rẹt. Cô chụp lại trang sổ bằng điện thoại, đặt cuốn sổ về chỗ cũ, thổi lớp bụi trên gáy cho nó trông như chưa ai đụng vào. Rồi cô thấy mình làm vậy, và tự hỏi tại sao mình lại giấu.
Tối thứ Sáu, trăng rằm lên sớm. Thy không ăn cơm. Cô nói với Bửu là cô mệt, rồi đi bộ ra phía sau lò, xuống cái bến nhỏ có mấy bậc thang đá dẫn thẳng xuống mặt kênh, ngồi ở bậc thứ ba. Nước kênh lên cao, liếm tới bậc thứ năm, đen bóng, vỡ ra từng mảnh trăng vàng mỗi khi có gió. Bên kia kênh là dãy nhà dân, đèn tuýp trắng, tiếng tivi, tiếng một đứa con nít khóc nhè đòi ăn kem.
Cô nghe tiếng dép tổ ong trên bậc đá phía sau trước khi nghe tiếng người.
– Tôi tưởng cô về nhà nghỉ rồi.
Thiệu ngồi xuống bậc thứ hai, cách cô một khoảng vừa đủ. Anh cầm theo hai ly nước sâm đựng trong ly nhựa có nắp, ống hút còn bọc giấy.
– Tôi không uống của khách hàng. – Thy nói.
– Tôi biết. Cô trả tôi tám nghìn.
– Tám nghìn?
– Ly sâm đầu hẻm tám nghìn. Tôi không nói thách đâu.
Cô móc ví, đưa anh tờ mười nghìn. Anh thối lại hai nghìn, đếm đàng hoàng, rồi mới đưa ly sâm. Cô cầm ly sâm lạnh trong tay, không uống.
– Cô có chuyện gì không? – Anh hỏi.
– Không.
– Cô ngồi đây hai tiếng rồi. Thằng Cường bên lò thấy, nó lên kêu tôi, nó sợ cô nhảy xuống kênh.
Thy bật cười, cái cười nghe khô khốc.
– Tôi biết bơi.
– Vậy cô ngồi đây làm gì?
– Nhớ nhà.
Thiệu không nói gì. Anh rút ống hút, xé lớp giấy, cắm vô ly của mình, uống một hớp. Anh nhìn ra mặt kênh.
– Rằm tháng Mười, – anh nói, – ở đây đua ghe ngo. Ghe dài hai ba chục thước, năm chục người chèo, chèo theo tiếng mõ, nghe như tim ai đập. Hai bên bờ kênh người đứng kín, kín tới mức lấn xuống nước. Hồi nhỏ ba tôi cõng tôi trên vai đứng ngay bậc thang này coi. Có năm tôi làm rớt chiếc dép xuống kênh, ba tôi nhảy xuống mò, bị người ta tưởng nhảy theo ghe. – Anh dừng lại. – Cô ở dưới này tới Rằm tháng Mười không?
– Không. Tôi ở ba tuần.
– Uổng.
Hai người ngồi im. Đứa nhỏ bên kia kênh đã nín, chắc được ăn kem. Trăng lên cao hơn, mặt kênh sáng thành một dải.
– Cô nói dối dở lắm. – Thiệu nói, giọng không trách.
– Tôi biết.
– Vậy thôi. – Anh đứng dậy, phủi quần. – Tôi không hỏi. Cô ngồi tới chừng nào thì ngồi, mà mười giờ cô về, đường ven kênh khuya có mấy thằng nhậu. Nếu cô muốn có người đi về chung thì cô nhắn. Tôi ở trên lầu.
Anh đi lên. Tiếng dép tổ ong xa dần trên bậc đá, rồi mất. Thy ngồi lại một mình, cái ly sâm trong tay đã đọng nước chảy ướt cả cổ tay.
Cô mở điện thoại. Ứng dụng ngân hàng. Chuyển tiền. Danh bạ người nhận. Ở dòng đầu tiên, cái tên cô lưu từ năm năm trước: "Má". Cô bấm vô.
Màn hình hiện ra tên người nhận viết in hoa, không dấu: DOAN THI LAI. Chi nhánh ở Cần Thơ. Và mười ba chữ số.
Cô mở tấm ảnh chụp tờ uỷ nhiệm chi, đặt hai màn hình cạnh nhau trong đầu, dò từng con số một, từ trái qua phải, như dò hoá đơn. Số thứ nhất. Số thứ hai. Tới số thứ mười ba.
Không lệch một số nào.
Ngày mùng một mỗi tháng, cô chuyển cho má ba triệu. Ngày mùng năm mỗi tháng, lò bánh họ Dư chuyển cho má bốn triệu. Cùng một cái tài khoản. Và cái khoản tiền kia thì đã bắt đầu từ gần hai mươi sáu năm trước, từ hồi người ta còn đưa tiền mặt. Tháng nào cũng có.
— Hết chương 4 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe