Chương 30: Hai bà mẹ ở hai đầu cầu
Bà Hoa đi xe khách lên Cần Thơ một mình, lần đầu tiên trong hai mươi năm.
Bà không nói với ai. Sáng thứ Bảy, bà dậy từ năm giờ, thay cái áo bộ lụa màu hoa cà, gài cái kẹp tóc con bướm, xách cái giỏ đi chợ, dặn thím Ba là bà ra chùa. Bà đi bộ ra bến xe, mua vé, ngồi ở băng ghế sát cửa sổ. Người lơ xe hỏi cô đi Cần Thơ xuống chỗ nào, bà nói chợ Xuân Khánh. Suốt sáu chục cây số, bà ôm cái giỏ trên đùi, trong giỏ có một hộp bánh pía con dấu bông sen, một bịch chè bà ba đựng trong hộp nhựa, và một cái phong bì giấy màu nâu.
Chín giờ rưỡi, Thy đang dọn mấy cái ghế đẩu chồng lên nhau thì thấy một người đàn bà đứng ở đầu sạp.
Cô nhận ra cái kẹp tóc con bướm trước khi nhận ra người.
– Cô Hoa.
Bà Hoa gật đầu. Bà nhìn qua vai Thy, vô trong nhà, nơi má đang cúi xuống cọ cái nồi nước cốt dừa trong thau.
Má ngẩng lên. Cái nồi trong tay má không rơi. Má đặt nó xuống thau, chậm, như đặt một cái gì dễ bể. Má đứng dậy, lau tay vô vạt áo.
– Chị Hai.
– Chị Bảy.
Hai người đàn bà đứng nhìn nhau qua cái sạp bánh tằm sơn màu xanh ngọc. Thy đứng ở giữa, mấy cái ghế đẩu trong tay, không biết nên đặt xuống hay cầm tiếp.
– Con dọn ghế ra cho cô Hoa ngồi đi con. – Má nói.
Thy đặt hai cái ghế đẩu trong nhà, đối diện nhau, qua cái bàn gỗ thấp, cái bàn mà cô Út đã đặt cái khuôn mẻ cánh thứ ba lên lúc bốn giờ sáng. Bà Hoa ngồi xuống. Má ngồi xuống. Thy kéo cửa sắt xuống một nửa, rót hai ly trà đá, rồi đứng ở chân cầu thang. Không ai biểu cô đi. Cô cũng không đi.
Bà Hoa đặt cái giỏ lên bàn. Bà lấy hộp bánh pía ra, đặt xuống. Lấy hộp chè ra, đặt xuống. Rồi bà ngồi im, hai tay nắm quai giỏ.
– Chị biểu nó đừng lên. – Bà Hoa nói.
– Ờ.
– Chị tưởng vậy là chị cho tui?
Má không trả lời.
– Chị cho tui cái gì? – Bà Hoa nói, và giọng bà lên cao, cái giọng lần đầu tiên Thy nghe từ người đàn bà mềm mỏng hay lo âu này. – Nó là con tui. Ba mươi năm nó là con tui. Chị không có quyền cho tui. Chị không có quyền lấy lại rồi cho tui như cho một hộp bánh.
– Tui không cho. – Má nói. – Tui trả.
– Trả cái gì? Chị có mượn của tui cái gì đâu mà trả?
Má nhìn bà Hoa. Má nói, rất nhỏ:
– Mấy đêm nay chị Hai không ngủ.
Bà Hoa im bặt. Bà nhìn má, rồi nhìn xuống hai bàn tay mình đang nắm quai giỏ, mấy khớp ngón trắng bệch.
– Ba mươi năm tui sợ chị. – Bà Hoa nói. Giọng bà hạ xuống, mà mỗi chữ như phải đẩy ra. – Chị biết không. Tui sợ từng đêm. Chị đi rồi, tui vẫn sợ. Tui sợ một bữa nào đó chị đứng ở cổng, chị nói tui là má nó. Năm thằng Thiệu mười tuổi, anh Đạt say rượu, nói anh nhớ con Bảy hát ru thằng nhỏ hay hơn em. Có câu đó thôi. Tui khóc cả đêm. Tui nói với ảnh: anh còn nhắc tới con Bảy nữa thì tôi ôm thằng Thiệu đi. Thằng nhỏ nghe. Nó nhớ tới bây giờ. Nó tưởng ba nó có gì với chị. Ba nó có gì với chị đâu. Ba nó chỉ nhớ chị hát.
Thy đứng ở chân cầu thang. Cô nhớ Thiệu kể chuyện đó ở bậc thang bến sau lò, đêm cô kể hết cho anh nghe. Một đêm anh mười tuổi thức dậy đi tiểu. Anh đã tưởng là chuyện ba anh ngoại tình. Anh đã sợ cô là em gái anh vì câu đó.
– Tui biết chị sợ. – Má nói. – Vậy nên tui không về.
– Chị không về mà chị đứng bên kia kênh.
Má không trả lời.
– Tui thấy chị. – Bà Hoa nói. – Mười mấy năm nay, Rằm tháng Bảy, Rằm tháng Mười. Tui đứng trên sân thượng tưới cây, tui thấy cái áo tím than dưới gốc bàng. Năm đầu tui không biết là ai. Năm thứ hai tui biết. Tui không nói với ai. Tui đứng trên đó, tui tưới cây, tui nhìn chị, chị nhìn thằng nhỏ.
Hai người đàn bà ngồi im. Ngoài hẻm, chiếc xe kem đi ngang, phát cái điệu nhạc leng keng.
– Năm nó học lớp ba. – Bà Hoa nói, sau một lúc rất lâu. – Nó sốt xuất huyết. Mười ngày. Tui quỳ ở chùa ba đêm. Năm nó mười sáu, nó té xe gãy tay, tui ngồi bệnh viện cả tuần. Năm nó thi đại học, tui thắp nhang mỗi tối. Năm nó kéo khay lò than bằng tay không, tui ngồi ngoài phòng thay băng, nghe nó la mà tui không vô được.
– Tui biết. – Má nói. – Bà Chín bánh cống kể.
– Chị không biết. – Bà Hoa nói. – Chị đứng bên kia kênh, chị không biết.
– Ờ. – Má nói. – Tui không biết.
Bà Hoa nhìn má. Rồi bà hỏi, giọng khác đi, như người đã cãi xong và bây giờ mới hỏi cái mình thật sự muốn hỏi:
– Bốn năm đầu. Nó ra sao?
Má nhìn ra cửa sắt, ra con hẻm nắng.
– Nó khó ngủ. – Má nói. – Phải ẵm đi tới đi lui ngoài sân giếng. Nó mọc cái răng đầu tiên lúc bảy tháng, răng cửa dưới, sốt hai ngày. Nó biết đi lúc mười một tháng, đi được ba bước thì té úp mặt vô bao bột, ngồi dậy trắng như con ma, nó cười. Tiếng đầu tiên nó nói là "lá". Nó chỉ vô túi áo tui. Tui bỏ lá dứa trong túi áo.
Bà Hoa đưa tay lên che miệng.
– Tiếng đầu tiên nó nói với tui là "má". – Bà nói qua kẽ tay. – Năm nó hai tuổi rưỡi. Tui đếm từng ngày. Tui tưởng nó không bao giờ gọi.
– Nó gọi chị là má. – Má nói. – Nó gọi tui là vú. Tui dạy nó vậy.
Bà Hoa khóc. Không thành tiếng, chỉ là nước mắt chảy, như cô Út trong cái xe tối đêm kiểm kê. Má ngồi đối diện, không đưa khăn, không vỗ vai. Má chỉ ngồi đó, như người ta ngồi cạnh một cái lò đang tắt dần, chờ nó nguội.
Rồi bà Hoa lau mặt bằng cái khăn tay trong túi áo. Bà mở cái giỏ, lấy ra cái phong bì giấy màu nâu, đặt lên bàn, đẩy qua phía má.
– Cái này của chị.
Má nhìn cái phong bì. Má không cầm.
– Chị mở đi.
Má mở. Bên trong là một tờ giấy vàng ố, mép giấy sờn như vải mùng, một góc cháy đen, quăn lại, mất gần một phần ba. Phần còn lại có mấy chữ in ở đầu: giấy chứng sinh. Có tên một nhà bảo sanh ở Sài Gòn. Có ngày hai mươi tháng Ba năm một ngàn chín trăm chín mươi lăm. Có dòng: trẻ sơ sinh, nam, ba ký hai. Có dòng: họ tên mẹ. Và bên cạnh dòng đó, bằng mực xanh đã phai, viết tay nắn nót: Đoàn Thị Lài.
Thy đứng ở chân cầu thang, thấy cái tên má trên tờ giấy cháy dở.
– Người ta làm hai tờ. – Bà Hoa nói. – Một tờ tên tui, đem đi làm khai sinh. Một tờ tên chị, nội biểu tui giữ, phòng khi. Ba mươi năm tui giữ trên nóc tủ. Tối hôm thằng Thiệu nói nó với con nhỏ này là con cô con cậu, tui đem ra đốt. Tui đốt được một góc. Tui đốt không nổi.
Má cầm tờ giấy lên. Hai bàn tay má, đen nhẻm than, run lần đầu tiên trong buổi sáng đó.
– Sao chị không đốt hết? – Má hỏi.
– Vì tui biết. – Bà Hoa nói. – Tui biết nó không phải máu nhà đó. Tui biết hai đứa nhỏ không có gì hết. Tui biết mà tui không nói. Tui ngồi coi thằng con tui khổ hai tháng trời, vì tui sợ nói ra thì mất nó. Tui đốt tờ giấy này là tui đốt cái chỗ duy nhất có chữ nói ra được điều đó. Tui đốt không nổi.
Má ôm tờ giấy vô ngực. Hai người đàn bà ngồi im rất lâu. Thy nghe tiếng đồng hồ treo tường nhà ông Tư bên kia vách điểm mười giờ.
Rồi má đứng dậy, đi vô bếp. Má bưng ra hai cái dĩa, hai đôi đũa. Má mở hộp bánh pía, cắt một cái làm tư. Má mở hộp chè bà ba, múc ra hai chén.
– Chị Hai ăn đi. – Má nói. – Đi xe từ sáng chưa ăn gì.
Bà Hoa nhìn chén chè, rồi nhìn má. Rồi bà cầm muỗng.
Thy lách qua cánh cửa sắt kéo một nửa, đi ra đầu hẻm. Cô đứng ở đó, dưới mái hiên nhà ông Tư, cạnh hai lồng chim chào mào, hít mùi nắng. Cô lấy điện thoại định nhắn cho Thiệu, thì thấy chiếc xe bán tải màu xám đã đậu ở đầu hẻm từ lúc nào. Thiệu ngồi trong xe, hai tay đặt trên vô lăng. Anh không xuống.
Cô đi lại, mở cửa ghế phụ, ngồi vô.
– Thím Ba nói má ra chùa. – Anh nói. – Anh gọi chùa, chùa nói không thấy. Anh đoán.
– Cô Hoa với má em đang ăn chè.
Anh quay qua nhìn cô.
– Ăn chè?
– Ăn chè bà ba của cô Hoa. Với bánh pía. Má em cắt làm tư.
Thiệu ngồi im. Rồi anh đặt trán lên vô lăng, và vai anh rung, và Thy không biết anh khóc hay cười, và cô nghĩ có lẽ chính anh cũng không biết.
Họ lái xe ra bến Ninh Kiều. Mười một giờ trưa thứ Bảy, nắng cuối năm dịu, gió sông mát. Hai người đi bộ dọc bờ kè, qua cái chân cầu đi bộ, chỗ bốn tháng trước họ cãi nhau vì một cái cổ áo. Lần này, ở giữa đoạn đường, Thiệu đưa tay ra. Không nói gì. Thy nhìn bàn tay đó, cái vết sẹo bỏng chạy từ cổ tay lên. Cô đặt tay mình vô.
Họ đi như vậy hết đoạn kè, không ai nói câu nào.
Tới chỗ cuối kè, Thy dừng lại.
– Em nghỉ hãng. – Cô nói.
Thiệu quay lại.
– Thứ Hai em nộp đơn. – Cô nói. – Em nghĩ cả tuần nay rồi. Em còn ở Song Thành thì em không được đụng tới cái gì của Dư Ký. Mà hãng em đang làm cho Dư Ký. Em không muốn ông Toàn phải giải thích với ai vì sao một người của hãng đi lại nhà khách hàng mỗi tuần.
– Em mất cái ghế chủ nhiệm.
– Ông Toàn nói năm sau em lên, nếu năm sau em còn ở đó. – Thy nói. – Em không ở. Em biết cái giá rồi.
Anh nhìn cô một lúc lâu.
– Anh có chuyện muốn kể em. – Anh nói. – Chuyện lò. Chuyện Hưng Gia.
– Chờ em nghỉ xong. – Thy nói. – Ngày chót của em, anh kể.
Anh gật đầu. Anh cười, cái cười tự giễu.
– Em vẫn là em.
– Em vẫn là em.
Hai người đứng ở cuối kè, tay vẫn nắm. Dưới sông, một chiếc ghe chở dừa khô chạy ngang, chất đầy, chìm gần tới mạn. Bên kia sông, cái cồn xanh rì dưới nắng.
Thy nhìn chiếc ghe dừa. Cô nghĩ tới hai người đàn bà đang ngồi ăn chè trong căn nhà nhỏ ở hẻm chợ Xuân Khánh. Cô nghĩ tới cô Út một mình trong cái lò bên kênh Maspero. Cô nghĩ tới tấm ảnh thằng Bửu chụp lúc ba giờ sáng, cô Út nhặt lòng đỏ dưới bóng đèn.
– Còn cái lò. – Cô nói. – Chú Ba sẽ không dừng.
— Hết chương 30 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe