Chương 28: Thằng Cò
Bà Lài đang rửa lá chuối trong cái thau nhôm ngoài hiên khi nghe tiếng chân đi vô hẻm.
Năm giờ bốn mươi sáng Chủ nhật. Trời còn xám, đèn đường chưa tắt. Lò than đã đỏ, nồi nước cốt dừa đã bắc lên, bột đã ngâm từ tối. Bà rửa từng tàu lá, lau khô bằng cái khăn, xếp chồng lên nhau để lát gói bánh cho khách mua về. Tiếng chân trên mặt hẻm xi măng nặng và chậm, của một người đàn ông cao, bước dài, đi như người đã lái xe một mạch không nghỉ.
Bà ngẩng lên.
Thằng nhỏ đứng ở đầu sạp. Cái áo thun xám, cái quần kaki bạc màu, đôi mắt thâm quầng của người không ngủ. Bà thấy nó, và trong một khoảnh khắc trước khi cái đầu bà kịp nhớ ra bây giờ là năm nào, nó là ai, bà là ai, cái miệng bà đã nói.
– Cò…
Bà nghe chính mình nói. Bà đánh rơi tàu lá chuối xuống thau nước.
Thiệu đứng im. Anh đứng đó, ở đầu cái sạp bánh tằm màu xanh ngọc, nghe một cái tên mà hai mươi sáu năm nay không ai gọi. Không phải má anh, không phải nội, không phải ai. Chỉ có một người gọi anh bằng cái tên đó.
– Cô vừa gọi con là gì? – Anh hỏi.
Bà Lài không trả lời. Bà nhìn xuống thau nước, nhìn tàu lá chuối đang chìm dần, xanh thẫm dưới làn nước đục.
– Chú Sáu biểu con hỏi vú Bảy. – Thiệu nói. Giọng anh khàn. – Con không biết hỏi cái gì. Con chỉ biết lái xe lên đây.
Bà Lài vớt tàu lá chuối lên, vắt cho ráo, đặt lên chồng lá. Bà lau tay vô vạt áo. Rồi bà đứng dậy, kéo cái ghế đẩu thứ hai ra trước bếp than, đặt đối diện cái ghế của mình.
– Cậu ngồi đi. – Bà nói. – Ngồi gần lửa cho ấm. Sáng nay gió bấc.
Anh ngồi. Hai người ngồi hai bên bếp than, lửa đỏ hắt lên mặt. Nồi nước cốt dừa bắt đầu reo nhỏ.
Bà Lài nhìn anh rất lâu. Rồi bà đưa tay lên, chậm, như sợ phỏng, lần này không dừng lại giữa chừng. Đầu ngón tay chai sạn của bà chạm vô bên trái mặt anh, chỗ vành tai, chỗ cái lỗ nhỏ xíu như ai lấy đầu kim chích vô. Bà vuốt một cái. Rồi bà rút tay về, đặt lên vành tai trái của chính mình, chỗ có cái lỗ y hệt.
– Má tui có. – Bà nói. – Tui có. Cậu có. Cái lộc này của bên ngoại.
Thiệu ngồi bất động.
– Năm tui mười lăm tuổi, tui vô nhà đó làm. – Bà Lài nói. Bà nói chậm, nhìn vô lửa, như người kể một chuyện đã kể với chính mình cả ngàn lần trong đầu mà chưa lần nào nói ra miệng. – Năm chín bốn, tui hai mươi bốn. Có một người tên Tới, Lâm Văn Tới, làm phu bốc vác ngoài chợ. Ổng cao, giò dài, đi như con cò. Ổng hay ghé cửa sau lò xin nước uống. Tui có bầu. Ổng nghe tui có bầu, ổng đi. Đi đâu tui không biết. Người ta nói xuống Cà Mau đi biển.
Lửa than nổ một tiếng lách tách.
– Bà biết. – Bà Lài nói tiếp. – Chị Hai mười một năm không có con. Bà kêu tui vô phòng. Bà nói: mày đẻ, đứa nhỏ làm con anh Hai chị Hai, khai sinh tên chị Hai. Mày ở lại làm vú. Mày giữ nó, mày nuôi nó, mà nó không phải con mày. Mày chịu thì ở. Không chịu thì đi, ôm nó đi, mày lấy gì nuôi.
– Cô chịu.
– Tui chịu. – Bà Lài nói. – Tui hai mươi bốn tuổi, tui không có nhà, không có chồng, không có ruộng. Tui chịu thì nó có nhà, có ba má, có nội, có cái lò. Mà tui được ở gần. Tui được bồng. Tui được cho bú. Tui chịu.
Bà dừng lại.
– Tháng Ba năm chín lăm, ở một nhà bảo sanh trên Sài Gòn. Cậu ra đời lúc ba giờ chiều. Ba ký hai. Cậu khóc không lớn, cậu ọ ọ như mèo con. Người ta đặt cậu vô tay chị Hai trước. Tui đứng ở góc phòng coi.
Thiệu nghe chữ ọ ọ như mèo con. Anh nghe nó lần thứ hai trong mười ngày, từ hai người đàn bà khác nhau. Anh cúi đầu xuống.
– Cậu ốm nhom, giò dài. – Bà Lài nói, và lần đầu tiên giọng bà có cái gì như cười. – Đứng một chân hoài. Tui kêu cậu là Cò. Kêu riết rồi cả nhà kêu theo, tới năm cậu ba tuổi bà cấm, nói con trai trưởng tôn mà kêu như con chim ngoài đồng. Mà tui vẫn kêu. Lén kêu.
– Cô hát ru con. – Thiệu nói. Giọng anh không còn là giọng anh. – Bài ví dầu cầu ván. Cô hát sai một chữ.
Bà Lài nhìn anh. Rồi bà nhắm mắt lại, và bà hát, giọng nhỏ, khàn vì lửa than, vì gió bấc, vì hai mươi sáu năm không hát bài này.
– Ví dầu cầu ván đóng đinh… cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi… khó đi má dắt Cò đi…
Thiệu đưa hai tay lên che mặt.
Người ta hát mẹ dắt con đi. Ai cũng hát vậy. Năm anh học mẫu giáo, cô giáo dạy cả lớp hát, anh đứng lên cãi cô giáo hát sai, phải là dắt Cò đi. Cả lớp cười. Anh về nhà khóc, mà không biết vì sao mình khóc. Anh đã quên chuyện đó hơn hai mươi năm. Anh chỉ còn nhớ là bà vú hát sai một chữ.
– Năm chín chín. – Bà Lài nói, mở mắt ra. Bà không hát nữa. – Cô Út có bầu. Bà biểu tui theo cô Út ra cù lao, chăm cô Út. Tui đi. Tui tính đẻ xong thì về với cậu. Đêm Rằm tháng Tám, cô Út đẻ. Sáng ra chú Sáu xuống. Bà nói đem đứa nhỏ cho nhà nuôi trẻ. Tui quỳ. Tui xin nuôi.
Bà dừng lại rất lâu. Nồi nước cốt dừa sôi, bà không nhấc xuống.
– Bà nói được. – Bà Lài nói. – Mà tui phải đi luôn. Không bao giờ về nhà đó. Không bao giờ nhìn mặt ai trong nhà đó. Không bao giờ nhìn mặt cậu.
Thiệu bỏ tay xuống khỏi mặt.
– Tui phải chọn. – Bà Lài nói. – Ở lại với cậu thì con nhỏ đi nhà nuôi trẻ, không ai hết. Ẵm con nhỏ đi thì mất cậu. Cậu có nhà, có ba má, có nội, có cái lò. Con nhỏ không có ai. Không có ai hết, Cò.
– Cô…
– Tui đổi. – Bà Lài nói. Hai chữ đó ra khỏi miệng bà nhẹ hều, như một cái lá rơi, sau hai mươi sáu năm nằm trong cổ. – Tui đổi cậu lấy con nhỏ.
Ngoài hẻm, trời đã hửng sáng. Con gà trống nhà ai gáy. Ông Tư bên nhà kế mở cửa, ho một tràng, treo hai lồng chim chào mào ra hiên. Bà Lài đứng dậy, nhấc nồi nước cốt dừa xuống khỏi bếp, đặt lên nền, rồi ngồi lại.
– Bữa tui theo cô Út ra cù lao, cậu đang ngủ. – Bà nói. – Tui không dám nhìn cậu lần chót. Tui sợ cậu thức. Tui tưởng vài tháng là về. Rồi cái sáng đó, lúc gà gáy, tui ẵm con nhỏ ra mé sông, giao cho chú Sáu đem gửi người ta cho bú. Tui quay vô ngồi ở đầu giường cô Út. Bảy ngày sau tui ẵm nó lên xe đò. Một đứa thì đi rồi. Một đứa thì ở lại.
– Ông Tư Tiêu nói cô nói câu đó ở hàng vịt.
– Ờ. – Bà nói. – Tui nói với mấy con vịt.
Thiệu nhìn bà. Anh nhìn người đàn bà nhỏ thó ngồi trước bếp than, cái búi tóc lơ thơ, cái áo bà ba nâu đất, hai bàn tay đen nhẻm. Anh cố nhìn ra cái mặt mà anh không nhớ. Anh không nhớ. Anh chỉ nhớ một mùi.
– Rằm tháng Bảy. – Anh nói. – Rằm tháng Mười. Cô đứng bên kia kênh.
– Ờ. – Bà Lài nói. – Tui thề không về nhà đó. Tui có về đâu. Tui đứng bên kia. Tui coi cậu lớn. Năm cậu chín tuổi, anh Hai cõng cậu coi đua ghe, cậu làm rớt chiếc dép xuống kênh, anh Hai nhảy xuống mò, người ta la tưởng ổng nhảy theo ghe. Tui đứng bên này cười. Năm cậu mười lăm tuổi cậu cao hơn anh Hai. Năm cậu đi Sài Gòn học, tui đứng hoài mà không thấy. Năm hai ngàn mười chín cậu về. Rằm tháng Mười năm đó cậu đứng phất cờ ở bến lần đầu, tay trái cậu quấn băng trắng tới khuỷu. Tui đứng coi mà tui muốn chạy qua cầu.
– Tay con phỏng lò than.
– Tui biết. – Bà Lài nói. – Bà Chín bánh cống kể. Cả xóm kênh kể.
Thiệu cúi đầu. Anh nhìn xuống vết sẹo bỏng trên cánh tay trái, da láng và nhăn như giấy kính.
– Cô hỏi con tuổi Hợi.
– Tui biết cậu tuổi Hợi. – Bà Lài nói. – Tui hỏi để nghe cậu nói. Hai mươi sáu năm tui chưa nghe cậu nói câu nào.
– Cô nói con mặt tròn.
– Hồi nhỏ cậu mặt tròn. – Bà nói. – Tui quên là cậu lớn rồi.
Bà Lài cười. Nước mắt bà chảy xuống, chảy vô khoé miệng đang cười. Thiệu ngồi nhìn bà. Anh không biết mình nên làm gì với hai bàn tay mình, với cái thân hình ba mươi tuổi cao hơn người đàn bà này cả cái đầu. Anh không biết làm gì với cái tên Cò vừa được trả lại cho anh trên một cái ghế đẩu trước bếp than.
– Sao cô không nói? – Anh hỏi. – Đêm nội mất, cô đứng trước mặt con. Cô hỏi con ăn cơm chưa. Sao cô không nói?
– Đêm đó bà mở lời thề cho tui. – Bà Lài nói. – Bà nói: Bảy, mày muốn nói thì nói, tao không giữ mày nữa. Bà nói tao nghĩ sai. Bà nói tao lấy của mày nhiều quá. – Bà ngừng. – Mà tui ra hành lang, tui thấy chị Hai ngồi lần chuỗi. Tui thấy cậu đứng ở chân cầu thang, cậu có má. Tui không giành. Tui ẵm con nhỏ đi rồi, tui không có quyền quay lại giành.
– Con không phải đồ để giành, cô Bảy.
Bà Lài nhìn anh.
– Ờ. – Bà nói. – Cậu nói đúng. Mà tui sợ.
Thiệu nhìn bà. Anh muốn nói một chữ. Anh không biết là chữ nào. Ba mươi năm anh gọi một người là má. Người đó quỳ ba đêm ở chùa năm anh sốt xuất huyết. Người đó vẫn đang nằm trong phòng trên lầu hai ở Sóc Trăng, sợ anh đi khỏi phòng rồi đi luôn. Anh mở miệng, và chữ duy nhất ra được là chữ cũ.
– Cô Bảy.
– Ờ. – Bà Lài nói, như người ta nhận một cái gì đúng giá. – Cô Bảy được rồi.
Trên gác, có một tiếng ván sàn kêu răng rắc, rất khẽ.
Không ai trong hai người quay lại.
Ở chân cầu thang gỗ, sau cánh cửa ra hiên khép hờ, Thy đứng đó, hai tay ôm lấy cái thành cầu thang. Cô đã thức dậy vì một giọng đàn ông dưới nhà, đúng như cô từng thức dậy vì một giọng đàn bà nói chị Bảy. Cô đã đi xuống tới bậc cuối thì nghe chữ Cò. Rồi cô không đi được nữa.
Cô đã nghe hết. Ông Tới giò dài. Nhà bảo sanh trên Sài Gòn. Ọ ọ như mèo con. Khó đi má dắt Cò đi. Tui phải chọn.
Tui đổi cậu lấy con nhỏ.
Cô đứng sau cánh cửa, nhìn qua khe hở, thấy lưng má, thấy cái búi tóc lơ thơ, thấy ánh lửa than hắt lên mặt Thiệu. Cô nghĩ tới hai mươi sáu năm trên cái gác này. Hai mươi sáu cái Trung thu có một hộp bánh pía con dấu bông sen. Hai mươi sáu tô chè trôi nước, mỗi năm thêm một viên. Cô nghĩ tới mỗi một cái đó, cô đã nhận từ hai bàn tay đã buông một đứa nhỏ khác.
Cô đưa tay lên bịt miệng. Ngoài kia, má đứng dậy, bỏ thêm than vô lò, như mọi sáng.
— Hết chương 28 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe