Chương 23: Đua ghe ngo
Ông Tư Tiêu gọi cho Thy lúc mười một giờ trưa thứ Tư cuối tháng Mười Một, giọng ông run như cái võng đứt một đầu dây.
– Thy hả con. Má con xỉu ngoài sạp. Đang dọn bánh thì xỉu. Tui với bà Năm đầu hẻm khiêng vô nhà rồi. Trạm y tế phường đo huyết áp, nói cao lắm. Con về được không con?
Cô về được. Cô xin chị Hằng nghỉ ba ngày, chạy ra bến xe miền Tây trong bộ đồ công sở, không kịp ghé phòng trọ lấy đồ. Suốt ba tiếng rưỡi trên xe, cô ngồi nắm cái điện thoại, gọi cho ông Tư bốn lần. Lần nào ông cũng nói má con nằm, má con uống thuốc rồi, má con không sao, con đừng lo. Lần nào cô cũng nghe ra trong giọng ông cái chữ "đừng lo" đó là ông nói cho chính ông nghe.
Bảy giờ tối, cô đẩy cánh cửa sắt. Má nằm trên cái giường tre kê ở góc nhà dưới, đắp cái mền cũ, trán dán miếng cao. Bà Năm đầu hẻm ngồi bên cạnh quạt. Thấy cô, bà Năm đứng dậy, vỗ vai cô một cái, đi về. Má mở mắt.
– Con về chi. – Má nói. – Má có sao đâu.
Thy đứng nhìn má. Bảy tuần cô không về. Bảy tuần cô để điện thoại reo tới tắt. Má gầy đi, hai gò má hóp xuống, cái búi tóc lơ thơ hơn, nhiều sợi bạc hơn, hay cô chỉ mới thấy. Cô đặt cái túi xách xuống, ngồi xuống mép giường.
– Má ăn gì chưa?
– Ăn rồi.
– Má nói láo.
Má nhìn cô. Rồi má cười, một cái cười yếu xìu.
– Ờ. Chưa.
Thy đứng dậy, vô bếp, vo gạo, nấu cháo. Cô bằm một ít thịt nạc, bỏ vô cháo, rắc tiêu, hành lá. Cô làm đúng như má làm cho cô hồi cô bị thuỷ đậu năm lớp hai. Cô bưng chén cháo ra, thổi từng muỗng, đút cho má. Má không cãi. Má ăn hết nửa chén thì lắc đầu.
Đêm đó cô ngủ dưới nhà, trên cái chiếu trải cạnh giường tre của má, như hồi cô còn nhỏ, hồi căn nhà chưa có cái gác.
Ba ngày sau, má đã ngồi dậy được, đã đòi ra nhóm lò mà Thy không cho. Chiều thứ Bảy, hai má con ngồi trước hiên, má lặt rau, Thy xắt dưa leo, cắt dày như mọi lần. Má liếc qua, không la.
– Má. – Thy nói. – Con hỏi má một câu. Con không trách, con hỏi.
– Ờ.
– Sao má để cô Út thả đèn hai mươi sáu năm?
Má ngừng tay. Má nhìn cô, cái nhìn của người bị hỏi một câu mà mình không có câu trả lời.
– Bữa đó cô Út nói ra, má mới biết. – Má nói.
– Đêm Rằm tháng Tám nào cô Út cũng ra bến sau lò, ép một cái bánh in tí hon, đặt lên hoa đăng, thả xuống kênh. Cho con. Cho đứa nhỏ cô Út tưởng chết.
Má đặt nắm rau xuống rổ. Hai bàn tay má để trên đùi, mấy ngón tay co lại.
– Má không biết. – Má nói. – Má đi rồi mà con. Má đi từ đó, má không về. Má không biết cô Út làm cái gì.
Thy nhìn má. Cô nghĩ tới bảy tuần nằm trong phòng trọ, giận má vì một chuyện mà má không hề biết. Cô thấy cái giận của mình xì ra như một cái bong bóng bị kim chích, không còn hình dạng, chỉ còn lại một miếng cao su nhăn nhúm.
– Má biết cô Út khóc. – Má nói, nhỏ hơn. – Cái đó má biết. Má ngồi ở đầu giường, má nói câu đó, má nhìn cô Út khóc. Má biết. – Má ngừng một chút. – Má không xin con tha cho má.
– Con không bắt má xin.
– Ờ.
Hai má con ngồi im. Con mèo nhà ông Tư nhảy qua hàng rào, đi lại cọ lưng vô chân má. Má đưa tay vuốt nó.
– Thứ Năm này Rằm tháng Mười. – Má nói. – Má xuống Sóc Trăng.
– Má mới bệnh dậy.
– Năm nào má cũng đi.
– Má đi coi đua ghe?
Má không trả lời. Má vuốt lưng con mèo.
– Má đi thì con đi với má. – Thy nói.
Tối đó Thy gọi cho chị Hằng, xin nghỉ luôn tuần sau, tới hết thứ Năm. Chị Hằng không hỏi gì nhiều. Chị chỉ nói em lo cho má em đi, phép năm của em còn nhiều, năm nay em có xài ngày nào cho em đâu. Thy nói dạ, rồi ngồi cầm cái điện thoại tắt màn hình thêm một lúc, nghe má ngoài hiên nói chuyện với con mèo.
Sáng thứ Năm, mùng bốn tháng Mười Hai, hai má con đi chuyến xe năm giờ rưỡi xuống Sóc Trăng. Má mặc cái áo bà ba lụa tím than, lần này không cài hoa. Má ôm cái giỏ nhựa, trong giỏ có một chai nước, một gói bánh in, một cây dù.
Xe chạy được nửa đường thì trời sáng. Ruộng hai bên quốc lộ đã gặt xong vụ mùa, gốc rạ khô vàng, mấy bầy vịt chạy đồng được lùa đi ăn lúa rơi, cả ngàn con trắng xoá như một tấm khăn trải dọc bờ ruộng. Thy nhìn bầy vịt, rồi nhìn má.
– Má. Hồi nhỏ má có dắt con đi coi đua ghe không?
Má gật đầu.
– Ba năm. Năm con bốn tuổi, năm tuổi, sáu tuổi.
– Con nhớ có tiếng mõ. – Thy nói. – Con nhớ con ngồi trên hông má, chỗ nào có cây lớn lắm. Người ta la hét. Ghe dài thòng. Mà con nhớ… – Cô dừng lại. Cô đã nhớ ra cái đó từ hôm ngồi ở bậc thang nghe Thiệu kể chuyện đua ghe, nhớ mà không chịu biết mình nhớ. – Con nhớ má không coi ghe. Ghe chạy ngang, người ta la, mà má nhìn qua bên kia.
Má nhìn ra cửa sổ xe.
– Con nhỏ xíu mà nhớ dai. – Má nói.
Tới trưa, bờ kênh Maspero đã kín người. Người đứng trên bờ kè, người leo lên mái nhà, người ngồi trên cầu, người đứng dưới nước tới đầu gối. Cờ năm màu giăng dọc hai bên bờ, loa phát thanh oang oang đọc tên từng đội, tiếng trống, tiếng chiêng, mùi khói nhang từ mấy ngôi chùa của bà con Khmer, mùi cốm dẹp rang, mùi khô mực nướng. Mấy đứa nhỏ người Khmer mặc áo mới chạy dọc bờ, bán cốm dẹp gói lá chuối.
Má đi thẳng tới cây bàng già. Lá bàng tháng Mười đã đỏ một nửa, rụng lác đác. Má đứng dưới gốc, đúng chỗ đứng Rằm tháng Bảy. Bà chủ quán tạp hoá người Khmer thấy má, gật đầu chào như chào người quen, rồi thấy Thy đứng sau lưng, cười tủm tỉm.
Bên kia kênh, cái bến nhỏ sau lò bánh họ Dư treo một lá cờ đỏ thêu chữ vàng. Một chiếc ghe ngo của xóm đang neo sát bến, dài cả hai chục thước, mũi ghe cong vút sơn vàng, thân ghe vẽ những vân xanh đỏ. Mấy chục thanh niên Khmer mặc áo đồng phục đỏ ngồi hai hàng trong ghe, tay cầm dầm, chờ. Trên bậc thang đá, người đứng kín. Ở bậc trên cùng, cầm một lá cờ đỏ dài, là Thiệu.
Thy đứng sau má, nhìn qua. Thiệu mặc áo thun đỏ như đội ghe, đội cái nón vải trắng của lò, tay giơ lá cờ, đang nói gì đó với người cầm lái đứng ở đuôi ghe. Cô thấy anh gầy đi. Cái áo thun lùng nhùng ở vai. Hai gò má anh nhô ra.
Tiếng loa gọi đội. Chiếc ghe rời bến, chèo ra giữa kênh, về phía vạch xuất phát dưới chân cầu. Thiệu đứng trên bậc thang, phất cờ theo.
Rồi tiếng súng hiệu nổ. Hai chiếc ghe lao ra cùng lúc.
Thy chưa từng thấy cái gì như vậy. Năm mươi tay dầm cắm xuống nước cùng một lượt, rút lên cùng một lượt, nước bắn trắng xoá hai bên mạn. Người đứng giữa ghe thổi còi giữ nhịp, người đứng ở mũi múa tay, hô, cả chiếc ghe dài như con rắn nước lướt đi trên mặt kênh, nhanh tới mức cô không tin nổi. Hai bên bờ người ta gào lên. Trống chiêng nổi lên. Tiếng mõ. Đúng cái tiếng mõ cô nhớ hồi bốn tuổi, nghe như tim ai đập.
Chiếc ghe áo đỏ vượt lên nửa thân ghe khi ngang qua bến lò. Thiệu nhảy lên một bậc, phất cờ như điên, hét, cả đám người trên bậc thang hét theo. Cô thấy anh cười, cái cười lần đầu tiên sau hai tháng.
Cô quay lại nhìn má.
Má không nhìn ghe. Hai chiếc ghe đã lao qua, đã xa dần về phía cuối kênh, người ta đổ xô chạy theo dọc bờ. Má vẫn đứng dưới gốc bàng, mặt hướng về cái bến bên kia, nơi một người đàn ông áo đỏ còn giơ lá cờ trên cao, cười, nói gì đó với mấy người đứng quanh.
Thy đứng sau lưng má. Cô nhớ ra rồi. Không phải nhớ, mà là biết. Hồi bốn tuổi, năm tuổi, sáu tuổi, cô ngồi trên hông má dưới một gốc cây, nghe tiếng mõ, nhìn ghe, và má thì nhìn một cái bến khác. Lúc đó trên cái bến đó có một thằng nhỏ chừng chín, mười tuổi, ngồi trên vai ba nó. Cái thằng nhỏ làm rớt chiếc dép xuống kênh.
Cô nghĩ: má nhìn đứa nhỏ má đã giữ bốn năm rồi bỏ lại. Má bỏ nó lại để ẵm con. Một đứa thì đi rồi, một đứa thì ở lại.
– Má. – Cô nói nhỏ. – Má là bà vú của anh Thiệu.
– Ờ. – Má nói. – Má giữ cậu Hai bốn năm.
Thy không hỏi thêm. Cô đưa cho má chai nước, má uống một ngụm. Cô nói má đứng đây, con qua cầu mua cái gì ăn, má gật đầu.
Cô đi lên cầu sắt, qua bờ bên kia, len giữa đám đông. Cô mua hai gói cốm dẹp của một đứa nhỏ Khmer, rồi đi dọc bờ kè về phía bến lò, không biết vì sao mình đi về phía đó. Tới đầu dãy kè, cách cái bến chừng hai chục bước, cô dừng lại.
Thiệu đã thấy cô. Anh đứng ở bậc trên cùng, lá cờ đã cuộn lại cầm trong tay. Người qua lại giữa hai người không ngớt. Một bà bán bánh tét đội thúng đi ngang. Một đám thanh niên ướt đẫm vừa từ dưới ghe leo lên, cười nói ầm ĩ. Anh không bước tới. Cô không bước tới.
Anh giơ tay lên một chút, như chào. Cô gật đầu. Hai người đứng hai đầu cái bến, nhìn nhau qua đám đông, chừng một phút. Một phút mà Thy đếm được. Rồi có người gọi "cậu Hai ơi", anh quay đi. Cô quay về phía cầu.
Lúc cô về tới gốc bàng, má vẫn đứng đó. Má nhận gói cốm dẹp, không ăn, ôm trong tay. Bên kia kênh, Thiệu đang ngồi xuống bậc thang, tháo nón, lấy tay áo lau mồ hôi trên trán. Anh ngồi khom lưng, hai khuỷu tay chống lên đầu gối, cái dáng của người mệt đã lâu chứ không phải mệt một buổi.
Má nhìn anh. Má nhìn rất lâu. Rồi má nói, không quay lại, không nói với ai, như người ta nói một câu cho chính mình nghe:
– Nó ốm quá.
— Hết chương 23 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe