Chương 27: Chú Sáu không mở két
Bà Hoa nói vào chiều thứ Sáu, sau lễ cúng tuần đầu, trong căn phòng của bà trên lầu hai, cửa đóng.
Từ hôm ngã ở lễ thành phục, bà không ra khỏi phòng. Ngày thứ ba, người ta đưa nội ra nghĩa trang người Hoa ngoài rìa thành phố, Thiệu bưng bát nhang đi đầu, cô Út đi sau lưng anh, chú Ba đi sau cùng không nói một câu. Bà Hoa không đi. Bà nằm trên giường, quay mặt vô vách, thím Ba đem cháo lên thì ăn hai muỗng. Thiệu lên phòng má ba lần một ngày. Lần nào má cũng nói má mệt, con xuống đi.
Chiều thứ Sáu, lần này má không nói vậy. Má ngồi dậy, dựa lưng vô đầu giường, chỉ cái ghế đẩu cạnh tủ áo.
– Con ngồi đi.
Thiệu không ngồi ghế. Anh ngồi bệt xuống nền gạch, cạnh chân giường, như hồi nhỏ mỗi lần bị sốt anh nằm dưới đất cho mát, má ngồi trên giường quạt.
Má nhìn anh rất lâu.
– Chú Ba nói đúng. – Má nói. – Má không đẻ ra con.
Thiệu không nói gì. Anh đã biết từ lúc má ngã. Không ai ngã như vậy vì một câu nói sai.
– Má không đẻ được. – Má nói tiếp, giọng phẳng như người đọc lại một lá thư đã viết từ lâu mà không gửi. – Mười một năm lấy ba con, má không có. Đi thuốc bắc, đi chùa, đi bác sĩ trên Sài Gòn. Không có. Năm chín bốn, nội kêu má vô phòng, nói có một đứa nhỏ sắp sinh, mẹ nó không nuôi được, nội sắp xếp. Má đi Sài Gòn sáu tháng. Tháng Ba năm chín lăm, người ta đặt con vô tay má. Con nặng ba ký hai. Con khóc không lớn, con chỉ ọ ọ, như con mèo con.
– Mẹ con là ai?
Má lắc đầu.
– Má không nói được.
– Nội mất rồi má.
– Nội mất rồi má vẫn sợ. – Má nói. – Má thề với nội. Má thề ở đúng cái chỗ con đứng hôm đám, trước bàn thờ ông. Mà không phải vì lời thề. Má sợ. Má sợ má nói ra cái tên đó thì con đứng dậy đi khỏi phòng này, đi luôn.
– Con đi đâu má.
– Má không biết. – Má nói. Nước mắt má chảy, má không lau. – Ba mươi năm má sợ một chuyện. Bây giờ nó tới rồi mà má vẫn sợ y như vậy.
Thiệu đứng dậy. Anh ngồi xuống mép giường, cầm bàn tay má. Bàn tay nhỏ, mềm, cái nhẫn cưới mòn ở ngón áp út.
– Năm con học lớp ba. – Má nói. – Con sốt xuất huyết. Nằm viện mười ngày. Má quỳ ở chùa ba đêm. Ba con đi nhậu. Nội nói đứa nhỏ cứng cáp, không sao. Má không nghe. Má quỳ. – Má siết tay anh. – Cái đó không ai lấy của má được. Chú Ba không lấy được. Người đẻ ra con cũng không lấy được.
– Không ai lấy, má.
Bà Hoa nhìn anh. Rồi bà gật đầu, chậm, như người không tin mà cố tin.
Tối đó, Thiệu gọi cho Ngà. Anh đứng ở bậc thang bến sau lò, gió bấc lạnh buốt.
– Anh hỏi em một câu luật nữa. – Anh nói. – Câu cuối.
Ngà im một chút.
– Em nghe nói đám tang có chuyện. – Cô nói. – Anh hỏi đi.
– Nếu anh không phải con ba anh. Không có một giọt máu nào của nhà họ Dư. Thì anh với con gái ruột của cô Út…
– Thì cái cấm ba đời không còn. – Ngà nói, không để anh nói hết. – Luật cấm vì máu, anh nhớ không, em nói rồi. Anh không cùng máu với cô Út thì anh không phải cháu ruột cô Út, thì anh với con cô Út không có họ trong ba đời. Luật có cấm những trường hợp nuôi dưỡng, nhưng là cấm giữa cha mẹ nuôi với con nuôi. Anh với cô ấy không phải. Hai người lớn lên trong hai nhà khác nhau, gọi nhau là anh em theo nhà nuôi thì cũng không nằm trong cái cấm đó.
Thiệu đứng im. Mặt kênh tối, mấy ngọn đèn bên kia bờ đứng yên trên nước.
– Thiệu?
– Anh nghe.
– Em chỉ nói phần luật. – Ngà nói, chậm. – Còn phần kia, anh tự biết. Một người vừa mất bà nội, vừa mất cái tên mình mang ba mươi năm. Đừng vội.
– Anh không vội.
– Em biết. – Ngà nói. – Anh có bao giờ vội đâu.
Sáng thứ Bảy, Thy xuống.
Cô xuống thăm cô Út sau tuần đầu của bà Trinh, cô nói với mình vậy. Cô ở lại với cô Út tới trưa, phụ dọn mâm, rửa chén. Chiều, cô ra bậc thang bến sau lò. Thiệu đã ngồi ở đó.
Anh ngồi bậc thứ hai. Cô ngồi bậc thứ ba. Không ai nói gì về khoảng cách.
– Em nghĩ ra ở đám tang. – Thy nói. – Lúc cô Út quấn khăn lại cho anh. Em đứng ở cửa, em nghĩ ra. Em thấy mình tệ. Người ta vừa nói anh không phải người nhà, anh vừa thấy má anh ngã, mà em đứng đó làm toán.
– Anh nghĩ ra tối hôm đó. – Thiệu nói. – Lúc ngồi canh quan tài một mình, hai giờ sáng. Anh cũng thấy mình tệ. Người ta vừa lấy của anh cái tên, mà cái đầu tiên anh nghĩ tới là em.
Thy nhìn anh. Anh nhìn ra kênh.
– Hôm qua má anh nói. – Anh nói. – Má anh không đẻ ra anh. Má anh không nói mẹ anh là ai. Má anh sợ.
– Anh có giận không?
– Không. – Anh nói. – Anh không biết giận ai. Giận nội thì nội mất rồi. Giận má thì má quỳ ba đêm ở chùa năm anh sốt xuất huyết. Giận ba thì ba cũng mất rồi. Anh chỉ thấy… – Anh dừng lại, tìm chữ. – Anh thấy như mình đứng trong kho lạnh mà không có áo khoác. Không đau. Chỉ là không có gì giữa mình với cái lạnh.
Thy không nói gì. Cô kéo cái khăn quàng cổ của mình ra, đưa cho anh. Anh nhìn cái khăn, rồi cầm lấy, không quàng, chỉ cầm trong tay.
– Ngà nói luật không cấm. – Anh nói.
– Em biết luật không cấm. – Thy nói. – Em đọc rồi. Em đọc từ chiều Chủ nhật.
– Vậy mà mình không vui.
– Ừ. Vậy mà mình không vui.
Hai người ngồi đó cho tới khi trời tối. Bên kia kênh, một nhà còn treo cái đèn ông sao từ bữa Noel, ánh đèn nhấp nháy xanh đỏ trên mặt nước. Không ai nắm tay ai. Không có luật nào cấm. Chỉ là cả hai đều thấy chưa phải lúc, và cả hai nói ra được điều đó.
– Em không muốn thương anh trong lúc anh không biết anh là ai. – Thy nói. – Em không muốn anh nghĩ em là cái phao.
– Anh biết.
– Anh đi kiếm cho ra đi. – Cô nói. – Anh là ai. Em chờ được.
Anh quay lại nhìn cô. Lần này anh cười, cái cười tự giễu quen thuộc mà lâu lắm cô không thấy.
– Lần này em chờ hả?
– Lần này em chờ. – Cô nói.
Chú Sáu Lợi ở trong một căn nhà gỗ thấp cuối một con hẻm gần chợ, với đứa con gái lấy chồng làm thợ may. Thiệu tới vào sáng thứ Bảy, mùng ba tháng Một, năm mới vừa qua được hai ngày. Chú Sáu ngồi trên cái ghế bố trước hiên, tay cầm tờ báo, cặp kính gọng đồi mồi trễ xuống đầu mũi.
– Cậu Hai. – Ông nói, không đứng dậy.
– Chú Sáu. – Thiệu ngồi xuống cái ghế nhựa đối diện. – Con hỏi chú một chuyện. Chú biết con hỏi chuyện gì.
Chú Sáu gấp tờ báo lại, đặt lên đùi.
– Biết.
– Má con nói con không phải má đẻ. Má không nói mẹ con là ai. Má thề với nội.
– Ờ.
– Chú biết mẹ con là ai.
Chú Sáu không trả lời. Ông nhìn ra con hẻm, chỗ mấy đứa con nít đang chơi đá cầu.
– Nội có để lại giấy tờ gì không chú? – Thiệu hỏi. – Cái sổ riêng của nội. Giấy chứng sinh. Cái gì cũng được.
Chú Sáu đứng dậy, khó nhọc, chống tay vô thành ghế bố. Ông đi vô nhà. Thiệu đi theo. Trong căn phòng nhỏ có một cái bàn thờ, một cái giường, và ở góc tường, một cái két sắt màu xanh rêu, cao tới đầu gối, khoá số.
– Trong này có cái di chúc của bà. – Chú Sáu nói, đặt tay lên nóc két. – Công chứng hồi năm ngoái. Bà dặn chờ cái lò yên rồi mới đưa ra. Còn mấy cuốn sổ riêng của bà. Tháng nào chi gì, cho ai, tôi ghi hết. Bốn chục năm.
– Chú cho con coi.
– Không. – Chú Sáu nói.
Ông không mở két. Ông đứng đó, bàn tay khô quắt đặt trên nóc két như đặt lên đầu một đứa nhỏ.
– Trong này không có cái cậu cần, cậu Hai. – Ông nói. – Cái cậu cần không có ai viết ra giấy. Bà không viết. Tôi không viết. Người viết ra được thì chỉ có một người.
– Ai?
Chú Sáu tháo cặp kính, chùi vô vạt áo. Ông chùi rất lâu, như mọi lần.
– Cậu hỏi vú Bảy đi. – Ông nói.
Thiệu đứng im giữa căn phòng nhỏ.
Vú Bảy. Không phải cô Bảy. Ông nói vú Bảy, cái tên mà hai mươi mấy năm nay không ai trong nhà gọi, cái tên anh chỉ còn nhớ bằng một mùi. Mùi lá dứa trong túi áo. Mùi lá dứa đêm nội mất, ở chân cầu thang, khi người đàn bà áo tím than đứng nhìn bên trái mặt anh, đưa tay lên rồi hạ xuống. Cậu ăn cơm chưa.
Anh không nhớ mình ra khỏi nhà chú Sáu như thế nào. Anh nhớ là anh lái xe về lò, ngồi trong xe ở bãi đậu sau lò mới tới chiều, không xuống. Tối đó anh vô phòng mình trên lầu ba, nằm nhìn trần nhà, nghe tiếng thợ ca đêm dưới xưởng, nghe tiếng quạt hút gió ù ù. Anh không ngủ.
Anh nghĩ tới một bà vú hát ví dầu cầu ván, hát sai một chữ. Anh nghĩ tới một người đàn bà làm rơi cái vá trước sạp bánh tằm, hỏi cậu tuổi Hợi hả, nói cậu mặt tròn. Anh nghĩ tới một người đàn bà đứng dưới gốc bàng bên kia kênh mỗi Rằm tháng Bảy, mỗi Rằm tháng Mười, mười mấy năm. Anh nghĩ tới chữ Thy kể: một đứa thì đi rồi, một đứa thì ở lại.
Anh đã nghĩ "đứa ở lại" là mình. Anh đã nghĩ "đứa đi" là Thy. Anh chưa bao giờ đứng ở chỗ người nói câu đó mà nghe lại nó.
Gần sáng Chủ nhật, anh ngồi dậy. Ba giờ năm mươi, anh xuống cầu thang, đi ngang gian lò đang đỏ đèn, thợ đang vào chỗ. Bà Tư Nhan ngẩng lên.
– Cậu Hai đi đâu sớm vậy?
– Con đi Cần Thơ, cô Tư.
Bốn giờ sáng, chiếc xe bán tải màu xám chạy ra quốc lộ, đèn pha rọi vào bóng tối, thùng sau còn dính bột trắng loang lổ.
— Hết chương 27 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe