Chương 25: Đêm bà Trinh thức
Bà Lài đóng sạp lúc chín giờ sáng thứ Sáu, sớm hơn mọi ngày một tiếng. Bà bán hết nồi, rửa nồi, úp khuôn, treo cái khuôn sắt lên cây đinh sau bếp. Rồi bà đi tắm, gội đầu bằng nước bồ kết, ngồi chải tóc trước cái gương nhỏ trên vách, búi lại thật gọn. Rồi bà ra sau hè, ngắt hai lá dứa ở cái bụi cạnh lu nước, vò nát trong lòng bàn tay, bỏ vô túi áo. Hai mươi sáu năm nay bà không làm vậy.
Năm ngày nay chú Sáu gọi bà ba lần.
Lần thứ nhất, Chủ nhật, chú nói bà muốn gặp mày. Bà Lài nói tui thề rồi, tui không về nhà đó. Chú Sáu im một lúc, rồi nói bà biểu tao nói với mày là bà không còn lâu. Bà Lài cúp máy.
Lần thứ hai, thứ Ba, chú nói bà hỏi mày chừng nào xuống. Bà Lài nói chú nói với bà, lời thề là bà bắt tui thề, tui giữ hai mươi sáu năm, giờ bà kêu tui phá. Chú Sáu nói bà biết. Bà nói chính bà mở lời thề cho mày. Bà Lài không trả lời.
Lần thứ ba, tối hôm qua, chú Sáu chỉ nói một câu:
– Bác sĩ nói chắc không qua được tuần này, Bảy.
Bà Lài ngồi ở cái ghế đẩu trước bếp than đã tắt rất lâu sau câu đó.
Bây giờ bà mặc cái áo bà ba lụa tím than, thứ áo bà mặc đi chùa Rằm tháng Bảy và đi đứng gốc bàng Rằm tháng Mười. Bà không cài hoa. Bà khoá cửa, gửi chìa khoá cho ông Tư, nói tui đi Sóc Trăng thăm người quen bệnh, chắc mai mới về. Ông Tư nhìn bà, nhìn cái áo, không hỏi gì.
Bà không nhắn cho con Thy.
Ba giờ chiều, xe khách vô bến Sóc Trăng. Chiếc xe hơi trắng đậu sẵn ở cổng bến. Cô Út ngồi trong xe, không xuống. Bà Lài mở cửa ghế phụ, ngồi vô. Hai người đàn bà không chào nhau.
Xe chạy dọc kênh Maspero. Bà Lài nhìn ra cửa kính. Hai mươi sáu năm, bà chỉ đứng ở bờ bên kia. Bây giờ bà đi trên bờ bên này, qua cái chợ, qua cái cây me đầu cầu, qua cái tiệm thuốc bắc mà hồi xưa mỗi tuần bà đi bốc thuốc bổ cho chị Hai. Tiệm thuốc bắc giờ thành tiệm điện thoại. Cây me thì vẫn còn.
– Chị vô đi. – Cô Út nói, khi xe dừng trước cửa hàng. – Má tôi đang ngủ. Thức thì tôi kêu.
– Ờ.
Bà Lài bước qua cửa hàng. Mấy cô bán hàng trẻ măng nhìn bà, không biết bà là ai. Bà đi qua cái tủ kính xếp hộp bánh pía đỏ, qua cái cửa hông, ra sân giếng. Cái giếng đã đậy nắp xi măng. Hồi bà ở, cái giếng còn nắp gỗ, bà sáng nào cũng kéo nước lên rửa mặt cho thằng nhỏ. Mùi mỡ heo thắng, mùi đường, mùi bột. Cái mùi đó không đổi. Bà đứng giữa sân giếng, nhắm mắt lại một giây, như người bước vô nước lạnh.
Trên cầu thang lầu hai, có tiếng chân dừng lại. Bà Lài mở mắt.
Chị Hai đứng ở chiếu nghỉ. Bà Hoa, cái kẹp tóc con bướm bằng nhựa đồi mồi, cái áo bộ lụa màu hoa cà, tay cầm một cái khăn ướt như vừa lau mặt cho ai. Hai người đàn bà nhìn nhau, người ở trên cầu thang, người ở dưới sân.
Bà Hoa không nói gì. Bà Lài không nói gì. Rồi bà Hoa quay lưng, đi lên lầu. Bước chân bà nhanh, rồi chậm, rồi nhanh, như người đi trên một cây cầu khỉ.
Bà Lài đứng lại giữa sân rất lâu.
Chú Sáu dắt bà vô hành lang, chỉ cái ghế gỗ ở đầu hành lang cho bà ngồi, rồi ông ngồi xuống cái ghế bên cạnh, đặt cái giỏ nhựa đan lên đùi, rót cho bà một tách trà. Hai người ngồi đó từ bốn giờ chiều. Người trong nhà đi ngang, liếc nhìn, không ai hỏi.
– Mày già rồi Bảy. – Chú Sáu nói, sau cả tiếng đồng hồ.
– Chú cũng vậy.
– Ờ. – Ông gật gù. – Hai mươi sáu năm tao đưa tiền cho mày. Tháng nào tao cũng ghi một dòng. Theo lời bà. Tao chưa ghi sai dòng nào.
– Chú ghi đúng.
– Con nhỏ của mày lên gác lật cuốn sổ năm chín chín. – Chú Sáu nói. – Nó thổi bụi lại cho như chưa ai đụng. Tao lên, tao thấy cái gáy sổ sạch hơn mấy cuốn kế bên. Tao biết liền.
Bà Lài quay qua nhìn ông. Ông không cười, mà mấy nếp nhăn quanh mắt ông xô lại.
– Nó giống mày. – Ông nói. – Cái gì cũng muốn làm cho đàng hoàng, kể cả lúc giấu.
Chín giờ tối, bà Trinh tỉnh.
Cô Út ra kêu. Bà Lài đứng dậy khỏi cái ghế gỗ ở đầu hành lang, chỗ bà đã ngồi suốt năm tiếng. Suốt năm tiếng đó chú Sáu ngồi cạnh bà, hai người nói với nhau chưa tới chục câu, cái bình trà nguội dần trên ghế. Bà đi tới cửa lùa. Cô Út đứng tránh qua.
Trong phòng có mùi dầu gió, mùi thuốc. Bà Trinh nằm trên giường gỗ gụ, lưng kê gối. Bà gầy tới mức tấm mền mỏng phẳng gần như không có người nằm dưới. Bình dưỡng khí đặt cạnh giường, ống dây nhựa trong suốt vắt qua gối. Mắt bà mở.
– Bảy. – Bà nói.
– Dạ. – Bà Lài nói. – Con đây bà.
– Đóng cửa lại.
Bà Lài đóng cửa. Lần này bà kéo cho thật kín, không chừa một khe nào.
Thiệu ngồi ở hành lang từ mười giờ.
Cả nhà ngồi đó. Má anh ngồi trên cái ghế gỗ ở đầu hành lang, tay lần chuỗi tràng hạt. Chú Ba đi ra đi vô, điện thoại cầm tay. Thím Ba, thằng Tuấn. Cô Út đứng dựa tường, khoanh tay, không ngồi. Chú Sáu ngồi bệt dưới đất ở góc, lưng tựa tường, cái giỏ nhựa đan để trên đùi. Không ai hỏi người đàn bà áo tím than vô phòng nội là ai. Má anh biết. Cô Út biết. Chú Sáu biết. Chú Ba hỏi thím Ba một câu, thím Ba lắc đầu. Thiệu biết đó là cô Bảy. Anh không biết vì sao nội cho gọi cô Bảy vào lúc này, trước khi gọi ai khác.
Ngoài kênh tối om. Đêm ba mươi tháng Mười âm lịch, không có trăng. Chỉ có ánh đèn nhà bên kia hắt xuống mặt nước, mấy đốm vàng đứng yên.
Mười một giờ, cửa lùa mở.
Cô Bảy bước ra. Cô kéo cửa lại sau lưng, nhẹ, như sợ đánh thức ai. Mắt cô đỏ nhưng khô. Cô đi dọc hành lang về phía cầu thang, đi ngang má anh, má anh cúi đầu xuống chuỗi tràng hạt. Đi ngang chú Ba, chú Ba nhìn cô chằm chằm. Đi ngang cô Út, cô Út không nhúc nhích.
Rồi cô Bảy đi tới chỗ Thiệu đứng, ở chân cầu thang. Và cô dừng lại.
Cô đứng trước mặt anh. Cô nhỏ người, đầu cô chỉ tới ngang vai anh. Cô ngước lên nhìn anh. Không nhìn mặt anh. Nhìn bên trái mặt anh, chỗ vành tai, như bữa ở đầu hẻm Cần Thơ. Rồi nhìn mặt anh. Rồi lại nhìn vành tai.
Thiệu đứng im. Anh ngửi thấy một mùi rất nhẹ. Không phải mùi dầu gió trong phòng nội. Không phải mùi bột của lò. Mùi lá dứa. Rất nhẹ, như ai vò một lá dứa trong tay rồi bỏ đi đã lâu.
– Cô Bảy. – Anh nói.
Cô Bảy đưa tay lên. Bàn tay chai sạn ở mấy đầu ngón, móng tay cái nứt một đường dọc. Bàn tay đó dừng lại giữa chừng, cách má anh chừng một gang, run nhẹ. Rồi nó hạ xuống.
– Cậu ăn cơm chưa? – Cô Bảy hỏi.
Thiệu nghe câu đó, và anh không biết vì sao cổ họng anh nghẹn lại.
– Dạ chưa.
– Ăn đi. – Cô Bảy nói. – Thức khuya mà bụng đói là đau bao tử.
Cô đứng nhìn anh thêm một lúc. Lâu lắm. Lâu tới mức chú Ba ở đầu hành lang đặt điện thoại xuống. Lâu tới mức má anh ngừng lần chuỗi. Rồi cô Bảy cúi đầu, đi ngang qua anh, quẹo ra cửa hông, đi về phía sân giếng.
Thiệu đứng lại. Anh nghe tiếng chân cô xa dần. Anh đưa tay lên, sờ vô cái lỗ tai lộc trước vành tai trái, không biết vì sao.
Ngoài cổng, chú Sáu đuổi theo bà Lài ra tới vỉa hè. Đèn đường vàng vọt. Cô Út đã nổ máy xe, chờ chở bà ra nhà nghỉ.
– Bảy. – Chú Sáu nói. – Bà nói gì với mày?
– Chuyện của bà với tui. – Bà Lài nói. – Chú đừng hỏi.
Chú Sáu gật đầu. Ông đứng khom, cặp kính trễ xuống đầu mũi.
– Chú Sáu. – Bà Lài nói. – Cái tiền tháng đó. Tháng này là tháng chót. Từ tháng sau chú đừng gửi nữa.
– Bà dặn gửi cho tới khi mày nói thôi.
– Thì tui nói thôi. – Bà Lài nói. – Con nhỏ nó lớn rồi. Nó gửi cho tui.
Bà đi ra xe.
Bốn giờ sáng thứ Bảy, gian lò cũ đã đỏ đèn. Thợ vào từ hai giờ rưỡi như mọi ngày. Không ai nói với thợ là đừng làm. Nội đã dặn từ tuần trước: tao có đi thì lò vẫn đỏ, cái lò này chưa tắt ngày nào từ năm năm mươi tám, trừ mấy ngày Tết.
Thiệu ngồi bên giường nội, nắm một bàn tay. Cô Út nắm bàn tay kia. Má anh quỳ ở chân giường. Chú Ba đứng ở cửa. Nội thở chậm, rồi chậm hơn, mỗi hơi cách nhau như khoảng cách giữa hai mẻ bánh.
Bốn giờ hai mươi lăm, nội mở mắt. Mắt nội nhìn lên tấm mùng trắng, rồi quay qua phía cô Út.
– Út. – Nội nói. Giọng như gió lùa qua khe cửa. – Bánh ra chưa?
Cô Út cúi xuống sát mặt nội.
– Dạ chưa má. Ba phút nữa.
– Ờ.
Nội nhắm mắt lại. Cả phòng nghe tiếng thở. Một hơi. Một hơi nữa.
Ở dưới gian lò, tiếng cửa lò điện mở ra, tiếng móc sắt kéo khay. Mùi bơ đường cháy cạnh bay lên, len qua hành lang, qua khe cửa lùa, vô phòng, ngợp cả mùi dầu gió và mùi thuốc.
Bốn giờ hai mươi tám phút. Mẻ đầu ra lò.
Nội đi lúc bốn giờ ba mươi, rạng sáng thứ Bảy, mùng một tháng Mười Một.
Cô Út không khóc. Cô cúi xuống, áp trán mình vô bàn tay khô như vỏ cây, và giữ như vậy rất lâu. Má anh khóc thành tiếng. Thiệu ngồi im, bàn tay nội trong tay anh nguội dần. Chú Sáu ngồi bệt ở góc phòng, tháo cặp kính, lấy vạt áo chùi, chùi mãi không thôi.
Năm giờ, cô Út đi ra hành lang, gọi một cuộc điện thoại. Thiệu nghe cô nói đúng ba câu: Nội đi rồi. Ừ. Cô chờ con. Anh biết cô gọi cho ai.
Sáu giờ sáng, người ta đã lập xong bàn thờ tạm ở phòng khách lầu trên, dưới tấm ảnh ông nội mặc áo dài đen. Tấm ảnh nội chụp năm bảy mươi lăm tuổi được đặt lên, khung gỗ mới, dải khăn tang trắng vắt ngang. Hai cây đèn cầy. Một bát nhang.
Chú Ba bước vô phòng sau cùng.
Chú đứng trước bàn thờ một lúc lâu, nhìn tấm ảnh. Chú không thắp nhang. Rồi chú rút điện thoại trong túi áo, gõ một tin nhắn ngắn, ngón tay gõ chậm, từng chữ. Thiệu đứng ở cửa, đọc được mấy chữ trên màn hình sáng trong tay chú, không thấy chú gửi cho ai.
Tin nhắn chỉ có hai chữ.
"Sau tang."
— Hết chương 25 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe