Chương 1: Cánh cửa hai mét mười
– Cô đo sai rồi.
Miên đang đứng trên bậc thứ bảy của cái thang tre, một tay bám khung cửa, một tay kẹp cây thước gỗ sát mép đố cửa của căn số mười bốn. Thang mượn của cô Chín bán hủ tiếu ở căn số năm, đứng lên là nó rên như người già. Cô không cúi xuống.
– Anh đứng dưới đó thấy được vạch số hả?
– Tôi không cần thấy vạch số. – Giọng đàn ông, chậm, khô, giống người đọc biên bản. – Cô kẹp ngón cái ở vạch một trăm để lật thước. Mỗi lần lật, ngón cái cô dịch một chút. Ba lần lật là lệch gần một phân.
Miên nhìn ngón cái của mình. Nó đúng là đang kẹp ở vạch một trăm. Cây thước gấp của cô chỉ có năm khúc, mỗi khúc hai tấc, duỗi thẳng ra là đúng một mét. Muốn đo cao hơn một mét thì phải đánh dấu, lật, đo tiếp. Bảy năm nay cô đo như vậy, chưa ai phàn nàn.
– Hai mét lẻ chín. – Cô nói, rồi mới chịu nhìn xuống.
Dưới chân thang là một người đàn ông cao, gầy, áo sơ mi xám bỏ trong quần, tay áo xắn đúng hai nấc. Áo không nhăn một chỗ nào, dù Chợ Lớn mới bảy giờ bốn mươi sáng đã hầm như nồi cơm sắp chín. Anh ta cầm một cây thước gỗ y như của cô, cũng năm khúc, cũng màu vàng sậm đã bóng tay.
– Hai mét mười. – Anh ta nói. – Khung cửa này hai mét mười.
– Anh đo hồi nào?
– Tôi chưa đo.
Miên bám chặt khung cửa để khỏi cười thành tiếng trên cái thang đang rên.
– Anh chưa đo mà anh biết?
– Nhà phố năm hai mươi tám ở dãy này, cửa chính tầng trệt hai mét mười, cửa sổ lầu một mét bốn mươi. Ông chủ dựng nhà ghi trong bản kê vật tư. – Anh ta ngẩng lên. – Với lại cô đứng trên đó mười phút rồi. Tôi cũng có mắt.
– Vậy anh lên đây đo đi.
– Thang của cô.
– Thang của cô Chín. Tôi mượn. Anh muốn thì anh mượn.
Cô bước xuống, cố tình chậm, để cái thang rên đủ bảy tiếng. Đứng dưới đất rồi mới thấy anh ta cao hơn mình gần một cái đầu. Cô giơ tay chặn anh lại trước khi anh kịp đặt chân lên bậc đầu tiên.
– Khoan. Anh cầm thước gì vậy?
Anh ta xòe cây thước ra. Năm khúc. Khúc đầu tiên, chỗ lẽ ra phải ghi số không, lại ghi số một trăm. Khúc cuối cùng dừng ở hai trăm.
Miên nhìn cây thước của anh ta. Rồi nhìn cây thước của mình, dừng ở một trăm. Rồi nhìn lại anh ta.
– Thước của anh không có khúc đầu.
– Thước của cô không có khúc cuối.
– Thước tôi đo được từ số không. Anh muốn đo một cái lỗ khóa thì anh phải trừ đi một trăm trong đầu à?
– Tôi trừ nhanh. – Anh ta nói, mặt không đổi. – Còn cô đo cái cửa này phải lật ba lần.
– Hai lần.
– Ba. Lần đầu cô lật ngược.
Có tiếng cười khúc khích sau lưng. Tùng, thằng em kiến trúc sư hai mươi sáu tuổi của xưởng, đang ôm cái máy ảnh và cuốn sổ ký họa, cười tới mức phải quay mặt vào tường. Miên lườm nó một cái, nó im ngay, nhưng vai vẫn rung.
Người đàn ông leo lên thang. Thang không rên một tiếng nào dưới chân anh ta. Miên ghi nhận chuyện đó như ghi nhận một sự sỉ nhục cá nhân.
Được nửa chừng thì anh ta dừng. Thước của anh ta bắt đầu từ một trăm, muốn đo thì phải có ai đứng dưới giữ cái mốc một mét. Anh ta nhìn xuống. Cô khoanh tay.
– Cô cầm giúp tôi được không?
– Giúp anh để anh chứng minh tôi sai hả?
– Để mình biết cái cửa cao bao nhiêu. – Anh ta ngừng một chút. – Nó không phải của tôi, cũng không phải của cô.
Câu đó làm cô khó chịu hơn mọi câu trước, vì nó đúng. Miên giơ thước của mình lên, đặt đầu số không sát ngạch cửa, giữ vạch một trăm ngay chỗ anh ta chỉ. Anh ta đặt đầu thước một trăm của mình chồng lên đó, kéo lên tới đố cửa.
Hai thước nối nhau thành một đường thẳng dọc khung cửa đã tróc ba lớp sơn, lớp xanh lá, lớp vàng, lớp trong cùng màu gụ.
– Hai trăm lẻ chín, rưỡi. – Anh ta đọc.
– Vậy là tôi đúng.
– Làm tròn thì tôi đúng.
– Làm tròn là tật của người không đo được.
Anh ta leo xuống. Lần này cái thang rên, đúng một tiếng, như thể nó cũng đứng về phía cô.
Ông bà Lư dựng dãy nhà này năm một nghìn chín trăm hai mươi tám. Mười bốn căn nhà phố hai tầng, liền vách, mặt tiền quét vôi vàng, cửa lá sách xanh, mái ngói âm dương phủ rêu. Cả dãy chạy một mạch dọc đường Tạ Nguyên Lương, cách chợ Bình Tây chừng mười phút đi bộ. Căn số bảy ở giữa rộng gấp đôi, trên đầu cửa còn đắp nổi hai chữ "Vạn Lợi" và con số năm hai mươi tám, chữ đã mòn như bánh xà bông dùng gần hết. Người trong xóm không gọi tên đường. Họ gọi "dãy Mười Bốn Căn", như gọi một người quen.
Căn số mười bốn ở cuối dãy, bỏ trống sáu năm. Mái sập một góc phía sau, nắng rọi thẳng xuống nền gạch bông, cỏ mọc qua kẽ gạch thành từng đường như ai kẻ ô. Cửa chính thì còn tốt, gỗ dầu, tróc sơn nhưng không mọt, đóng mở vẫn nghe tiếng bản lề kêu rất đều.
Tám giờ đúng, bốn văn phòng kiến trúc được mời tập trung ở sân căn số bảy. Gạch Thẻ đi ba người: Miên, Tùng, và chị Phượng, người đã ngồi sẵn trên ghế đẩu từ bảy giờ rưỡi, mở máy tính tính gì đó không ai dám hỏi. Hai văn phòng khác mỗi bên hai người, mặc đồng phục áo thun có in logo. Còn bên của người đàn ông cầm thước một trăm đi năm người, một cậu đeo kính ôm cái hộp đen to bằng nồi cơm điện, chân đế ba càng dựng giữa sân.
– Máy quét laser. – Tùng thì thầm, giọng như vừa thấy xe bọc thép. – Chính xác tới hai li.
– Nó có biết gõ tường không?
– Không.
– Vậy nó thua chị một thứ rồi.
Bà Lư Ngọc Thoa bước ra từ hiên sau, tay chống cây gậy gỗ đầu bọc đồng, tóc bạc búi gọn, áo bà ba lụa màu tro. Bà tám mươi hai tuổi, nhỏ con, đi chậm, nhưng đi tới đâu là người ta tự động dạt ra tới đó, như nước rẽ quanh mũi ghe. Đi sau bà, cách đúng hai bước, là một con mèo mướp cái mập ú, đuôi dựng thẳng như cây ăng-ten.
Bà ngồi xuống cái ghế mây đặt sẵn dưới giàn bông giấy. Con mèo nhảy lên đùi bà, xoay ba vòng rồi nằm.
– Qua nói một lần. – Bà Thoa mở lời, giọng Sài Gòn xưa, rõ từng chữ. – Bây đo gì thì đo. Muốn vô nhà ai thì gõ cửa, xin. Người ta không cho thì đứng ngoài đo. Cấm khen nhà đẹp trước mặt chủ nhà.
Một anh ở văn phòng áo thun xanh giơ tay.
– Dạ, sao không được khen ạ?
– Khen nhà đẹp là người ta tưởng nhà mình đáng tiền, tháng sau người ta đòi qua giảm tiền thuê không được nữa. – Bà nói tỉnh bơ. Cả sân cười. Bà không cười. – Qua cho thuê mười một căn. Một căn qua ở, một căn ông Diệp mua đứt từ đời ông nội qua, còn căn mười bốn bỏ trống. Người ở đây là người ở thật, không phải tượng trưng bày. Đứa nào vẽ phương án mà đuổi người ta đi, qua đuổi đứa đó về trước.
Ba vòng. Vòng một nộp hồ sơ năng lực và một bài thuyết minh ý tưởng không quá hai mươi trang, hạn năm giờ chiều thứ Sáu hai mươi chín. Vòng hai sẽ nói sau. Vòng ba, người ở mười bốn căn được bỏ phiếu.
– Mỗi nhà một phiếu. Căn mười bốn không có người thì phiếu đó qua giữ.
– Vậy bà có hai phiếu. – Người đàn ông cầm thước một trăm nói, giọng không biết là hỏi hay ghi nhận.
Bà Thoa nhìn anh ta lâu hơn mọi người khác.
– Qua có hai phiếu. Với lại qua là người trả tiền. Cậu có thấy bất công thì cậu về.
– Dạ không. Con chỉ muốn tính đúng tổng số phiếu.
– Mười lăm. – Bà nói. – Lẻ, để khỏi hòa.
Miên ghi vào sổ: mười lăm phiếu, bà Thoa giữ hai. Cô đếm nhẩm lại, mười bốn căn ra mười bốn phiếu, và thêm một dấu hỏi nhỏ ở cuối dòng. Rồi cô liếc qua thấy người đàn ông kia cũng đang ghi đúng câu đó vào máy tính bảng, bằng một cây bút cảm ứng, chữ thẳng tắp. Cô gạch dưới câu của mình hai lần cho bõ tức.
Con mèo trên đùi bà Thoa vươn vai, nhảy xuống, đi một vòng quanh sân, ngửi giày từng người. Tới chỗ Miên, nó dừng lại, nhìn cuốn sổ ký họa cô đang để mở trên đầu gối, rồi leo hẳn lên, nằm ịch giữa trang giấy, đè lên cái mặt bằng cô vừa phác.
– Con Thầu chọn rồi đó. – Bà Thoa nói. – Nó nằm lên giấy của đứa nào thì đứa đó có phước.
– Nó tên Thầu hả bà? – Tùng hỏi.
– Qua nuôi nó năm qua tính chuyện mở thầu. Đặt tên vậy cho nhớ.
Miên gãi cằm con mèo. Nó rừ rừ. Cô ngẩng lên, định nhìn sang bên kia sân với vẻ mặt khiêm tốn của người được chọn. Đúng lúc đó con Thầu đứng dậy, bước xuống khỏi đùi cô, đi thẳng qua bên kia, nhảy lên cái máy tính bảng đặt trên ghế của người đàn ông cầm thước một trăm. Nó nằm xuống, đuôi phủ lên màn hình.
– Nó đổi ý rồi. – Bà Thoa nói. – Con này lăng nhăng lắm.
Cả sân cười lần thứ hai. Người đàn ông cầm thước một trăm không cười, nhưng anh ta đặt tay lên lưng con mèo rất nhẹ, như sợ làm nó thức.
Buổi khảo sát kéo dài tới gần trưa. Cái máy quét bên kia cứ xoay một vòng là kêu tít một tiếng như nồi cơm điện chín. Gạch Thẻ chia ba ngả: chị Phượng soi mái, Tùng chụp mặt tiền, Miên vô từng nhà xin phép đo. Ông Diệp ở căn số ba bán thuốc bắc cho cô vào nhưng không cho đo cái tủ thuốc trăm hộc, bảo "cái tủ là của tổ, không phải của nhà".
Mười một giờ rưỡi, nắng đổ thẳng xuống đường như ai hắt một thau nước nóng. Miên ra lấy xe.
Chiếc xe số màu đỏ đô của cô dựng dưới gốc cây me già trước căn số một, chỗ râm duy nhất trên cả dãy. Cô đã chạy tới từ bảy giờ kém mười lăm để giành được chỗ này. Giờ có một chiếc xe đạp thể thao màu xám dựng sát bên, khóa bằng một sợi xích dày như cổ tay vòng quanh gốc me.
Sợi xích đó, sau khi vòng quanh gốc me, còn đi luồn qua bánh trước xe của cô.
Miên đứng nhìn chừng mười giây. Rồi cô ngồi xuống bậc thềm, lấy điện thoại chụp sợi xích từ ba góc.
Mười lăm phút sau người đàn ông cầm thước một trăm đi ra, áo sơ mi vẫn không nhăn, chỉ có một vệt mồ hôi mờ sau lưng. Anh ta thấy cô ngồi đó, thấy sợi xích, và lần đầu tiên từ sáng tới giờ, mặt anh ta có biểu cảm. Nó giống mặt người vừa phát hiện mình nộp nhầm bản vẽ.
– Tôi không thấy bánh xe cô.
– Bánh xe tôi to cỡ này. – Miên giơ hai tay ra. – Màu đen. Nằm ngay đó từ bảy giờ kém mười lăm.
– Tôi tới lúc bảy giờ mười. Tôi tưởng nó là xe bỏ.
– Xe tôi nhìn giống xe bỏ hả?
Anh ta nhìn chiếc xe đỏ đô, tróc sơn ở yếm, có một miếng băng keo đen dán ngang chỗ đèn xi nhan bên trái.
– Tôi xin phép không trả lời câu đó.
Anh ta mở khóa. Sợi xích tuột ra khỏi bánh xe cô kêu xoảng một tiếng. Anh ta cuộn nó lại, rồi rút trong túi áo ra một tấm danh thiếp, đưa bằng hai tay, cúi đầu một chút, như người ở văn phòng to.
"Kiều Duy Thạch. Giám đốc thiết kế. Kiến trúc Đa Tầng."
Miên cầm tấm danh thiếp, đọc hai lần, rồi bật cười, không phải cười vì vui.
– Đa Tầng. Bên đập căn biệt thự vàng hai mặt tiền ở khu trung tâm năm ngoái.
– Năm kia. – Thạch nói. – Và tụi tôi không đập. Tụi tôi tháo dỡ có hồ sơ, có giấy phép.
– Tháo dỡ có giấy phép là đập có con dấu.
– Còn cô là?
Miên không có danh thiếp. Gạch Thẻ in danh thiếp lần cuối năm hai nghìn mười chín. Cô móc trong túi ra cây thước năm khúc, xòe ra, chỉ vào khúc đầu tiên. Ở đó, sát số không, có một chữ "L" nhỏ ai khắc bằng mũi dao từ rất lâu, đã mòn gần mất.
– Hà Thục Miên. Xưởng Gạch Thẻ.
Thạch nhìn chữ "L". Anh ta không nói gì. Rồi anh ta chậm rãi xòe cây thước của mình ra, chìa đầu khúc cuối, chỗ vạch hai trăm, cho cô xem. Ở đó có một chữ "H", cũng khắc bằng mũi dao, cũng mòn.
– Thước tôi cũng có chữ. – Anh ta nói. – Chắc thợ làm thước khắc tên mình.
– Thợ làm thước hai người khác nhau. – Miên nói. – Một người tên L, một người tên H.
– Chắc vậy.
Cô gấp thước lại, dắt xe ra khỏi bóng me. Thạch đứng nhìn cô đạp máy ba lần mới nổ.
– Cô Miên. – Anh ta gọi.
– Gì?
– Mai tôi tới sớm hơn bảy giờ kém mười lăm.
– Mai tôi ngủ ở đây luôn.
Cô vặn ga. Chiếc xe đỏ đô giật một cái rồi chạy, bỏ lại sau lưng một làn khói xanh và cái gốc me đã được giải phóng.
Chạy tới đầu đường thì cô phải thắng lại, vì có tiếng gậy gõ lốc cốc trên vỉa hè. Bà Thoa đứng ở đó, dưới mái hiên căn số hai, con Thầu nằm vắt trên vai bà như một cái khăn lông.
– Con bé Gạch Thẻ. – Bà gọi.
Miên tắt máy, dắt xe lại gần.
– Dạ, bà kêu con?
Bà Thoa nhìn cô từ đầu tới chân, kỹ như người mua vải.
– Gạch Thẻ là của thằng Lộc phải không?
Miên khựng lại một nhịp. Thầy Nghiêm Bá Lộc bảy mươi hai tuổi, cả giới kiến trúc Sài Gòn ai cũng gọi là "ông Lộc", "thầy Lộc", hoặc sau lưng thì "ông già khó ở". Cô chưa từng nghe ai gọi thầy là "thằng".
– Dạ, thầy con là ông Nghiêm Bá Lộc.
– Nó còn khỏe không?
– Dạ, thầy còn đi làm mỗi sáng. Tay hơi run.
Bà Thoa gật đầu, như nghe đúng điều mình đoán. Con Thầu trên vai bà ngáp một cái thật dài.
– Về nói với thầy bây. – Bà nói, giọng không lớn mà rõ từng chữ, như người đọc lại một câu đã thuộc lòng. – Thoa còn đợi nó tới uống trà. Hai mươi tám năm rồi, nó chưa bước chân vô cái sân này lần nào.
Rồi bà quay lưng, gậy gõ lốc cốc trên gạch, đi vào bóng mát, để lại Miên đứng giữa trưa nắng với chiếc xe tắt máy, và một câu hỏi không biết nên đem về hỏi ai.
— Hết chương 1 —
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe