Chương 22: Hai bó hoa ngoài cổng
– Cháu đứng đây bao lâu rồi?
– Hai mươi phút. Còn ông?
– Mười tám năm.
Ông Hoành đã băng qua đường. Ông đi chậm giữa dòng xe máy, giơ bó hồng trắng lên cao một chút như người ta giơ tay xin qua, rồi dừng lại trên vỉa hè, cách Miên một sải tay. Bây giờ hai người đứng cùng một phía, cùng nhìn vào đầu hẻm Ba Cây Me, nơi cái biển gỗ nhỏ "Xưởng Gạch Thẻ" treo lệch trên cột điện.
– Xưởng mở năm hai nghìn lẻ ba. – Ông nói. – Năm hai nghìn lẻ bảy chú mới biết nó nằm ở đây. Từ đó năm nào ngày này chú cũng tới. Đứng chỗ này. Rồi về.
– Hoa thì sao?
– Hoa thì chú để ở bàn thờ ông Địa đầu hẻm. – Ông nói, giọng không có chút gì như đang kể chuyện buồn. – Ông Địa nhận hết mười tám bó. Chưa thấy ổng chê.
Miên không cười. Cô nhìn bó cúc vàng trong tay mình, giấy gói đã nhàu ở chỗ cô nắm.
– Ông nợ ba tôi cái gì?
Ông Hoành không trả lời ngay. Một chiếc xe ba gác chở thùng nước đá chạy ngang, nước rỉ xuống mặt đường thành một vệt dài.
– Thằng Thạch nói với cháu chưa? Câu chú nói nó.
– Ông Lộc giữ lời giùm ông. – Miên nói. – Ông không có quyền nói trước.
– Ừ.
– Vậy ông tới đây làm gì? Ông không nói được, thầy tôi không nói, ba tôi không nói. Ba người đứng ba chỗ, mỗi người cầm một cái gì đó, rồi ai cũng chờ người kia mở miệng trước.
Ông Hoành quay sang nhìn cô. Gần như vậy, dưới nắng chín giờ sáng, cô thấy rõ hai túi da chùng dưới mắt ông, những nếp nhăn sâu của người hay cười để làm ăn. Hôm nay ông không cười.
– Chú nói với cháu một câu. – Ông nói. – Một câu thôi, vì câu này không phải lời của ai giữ giùm ai. Câu này là của chú.
Cô chờ.
– Thầy cháu không làm sập cái kho.
Dòng xe máy vẫn chạy. Bà bán xôi đầu hẻm vẫn mở nắp nồi, hơi nóng bốc lên mùi lá dứa. Mọi thứ trên con đường trước hẻm Ba Cây Me đều y như một buổi sáng thứ Năm bình thường, trừ cái câu vừa rơi xuống giữa hai người.
– Báo ghi…
– Báo ghi cái người ta cần ghi. – Ông Hoành nói. – Phần còn lại chú không được nói. Chú hứa rồi.
Ông chìa bó hồng trắng ra.
– Cháu cầm vô giùm chú.
– Lần trước ông nhờ tôi cầm măng cụt. Cũng câu đó.
– Lần này chú không dặn đừng nói. – Ông Hoành nói. – Cháu muốn nói thì nói.
Miên nhìn bó hoa. Rồi cô cầm lấy. Hai bó hoa trong hai tay, một vàng một trắng, cô băng qua đường, đi vào hẻm Ba Cây Me. Tới cửa xưởng, cô quay lại. Ông Hoành vẫn đứng dưới cây me bên kia đường, hai tay buông thõng, như một người vừa đặt xuống một thứ gì đó rất nặng và chưa quen với việc hai tay mình trống.
Tầng trệt xưởng không có ai. Tùng và chị Phượng đã lên lầu một. Hôm nay là ngày Nhà giáo, cả xưởng đã góp tiền mua một cái bánh kem nhỏ, giấu trong tủ lạnh, định chiều mới đem ra. Tùng đã nhắn cho cô bốn lần từ hôm qua hỏi chị có tới không.
Thầy Lộc ngồi trong ghế mây. Ly trà trên bàn. Dưới đáy ly vẫn là tờ giấy A4 gấp đôi.
Ông ngẩng lên khi cô bước vào, và ông nhìn hai bó hoa trước khi nhìn cô. Ông nhìn bó hồng trắng lâu hơn.
– Nó còn đứng ngoài đó hả?
– Dạ.
– Năm nào nó cũng đứng. – Thầy Lộc nói. – Tưởng tao không thấy.
Miên đặt hai bó hoa lên bàn, cạnh ly trà. Cô đứng đó, hai tay trống, không biết để đâu. Cô đã nghĩ suốt hơn hai tuần mình sẽ nói gì khi đứng trước cái bàn này lần nữa. Giờ cô không nhớ chữ nào.
– Ông Hoành nói thầy không làm sập cái kho.
Thầy Lộc không động đậy. Tay phải ông, bàn tay run, nằm yên trên đùi. Một lúc lâu, ông thở ra một hơi dài, như người thợ đặt xong viên gạch cuối cùng của một bức tường đã xây nhiều ngày.
– Nó nói hơi nhiều. – Ông nói. – Già rồi đâm ra lắm lời.
– Thầy.
– Chuyện cái kho là chuyện của tao, của nó, với ba mày. Ba người hứa với nhau. – Ông nhìn cô. – Ba mày không nói thì tao không nói. Mày muốn biết thì đi hỏi ba mày. Tao không giành phần của ba mày được.
Cô đứng im. Ông cầm cây bút chì đỏ lên, xoay xoay giữa mấy ngón tay. Nhưng ông không mở ngăn kéo lấy dao.
– Còn chuyện mày. – Ông nói. – Mày ngồi xuống.
Cô ngồi xuống cái ghế đẩu trước bàn ông, cái ghế học trò vẫn ngồi để nghe chấm bài.
– Tháng Sáu năm mười lăm. – Thầy Lộc nói, chậm, như đọc lại một dòng ghi trên khung tên. – Mày tới đây với một cuộn giấy dưới nách. Bài đo vẽ năm hai của mày. Cái đình làng ở Hóc Môn. Mày đo bằng thước dây với một cái thang mượn của ông từ giữ đình. Mặt cắt sai hai chỗ, ghi chú lộn xộn. Mà mày vẽ được cái vết mối ăn trên cây cột cái, thứ mà thầy mày ở trường không thấy. Mày ghi bên cạnh: "cột này gõ nghe rỗng ở cao độ một mét tư". – Ông gõ đầu bút chì lên mặt bàn. – Tao đọc dòng đó rồi nói mai tới.
– Dạ. Con nhớ.
– Mày nhớ cái mày nhớ. – Ông nói. – Lý lịch mày nộp hôm sau. Mày điền ở cái bàn đó, tao ngồi ở đây. Tao đọc dòng tên cha của mày lúc mày đã cầm thước đi đo cái cầu thang xưởng. – Ông ngừng. – Tao chọn bài đo vẽ của mày trước khi biết mày con ai. Một ngày. Mày muốn tin hay không thì tùy.
Miên cúi xuống. Cô nhìn mặt bàn, những vết bút chì đỏ cũ lấm tấm trên mặt gỗ như mưa rơi.
– Rồi sau đó thầy biết.
– Sau đó tao biết. – Thầy Lộc nói. – Sau đó ba mày tới gặp tao, xin tao một chuyện. Tao hứa. Sau đó tao dạy mày như dạy thằng Tùng, như dạy con Phượng. Mày tưởng tao nhận mày để trả nợ? Tao mà trả nợ bằng học trò thì tao cho mày ngồi văn phòng nghe điện thoại, tao không bắt mày leo thang tre đi gõ tường giữa trưa. – Ông nhìn cô, cái nhìn của người thợ cả ngắm một bức tường mới tô. – Người ta trả nợ thì trả cho xong. Tao dạy mày mười năm mà còn chưa xong.
Cô không nói được gì. Cô chỉ ngồi đó. Trên lầu một, cô nghe Tùng nói lớn "chị Miên về rồi hả chị Phượng", và tiếng chị Phượng "suỵt".
Thầy Lộc móc trong túi áo ngực ra một cái chìa khóa nhỏ, đặt lên bàn, đẩy về phía cô.
– Cái thước nằm trong ngăn kéo thứ hai. – Ông nói. – Mày muốn thì mày mở. Tao không mở giùm.
Cô cầm cái chìa khóa. Ngăn kéo thứ hai kêu cót két khi kéo ra. Bên trong là mấy cây bút chì đỏ đã gọt, con dao rọc, và nửa cây thước gấp của cô, gập gọn, đầu khúc có chữ "L" nằm ở trên cùng. Cô lấy nó ra. Gỗ lạnh, rồi ấm lên trong tay.
Rồi cô nhấc ly trà lên, rút tờ giấy A4 gấp đôi ở dưới đáy ra. Một vòng nước trà khô đã in lên đó, tròn, nâu nhạt, ngay giữa dòng "Con xin nghỉ việc".
– Đơn này thầy chưa đọc. – Thầy Lộc nói.
– Dạ. – Cô gấp nó lại làm tư, bỏ vào túi quần. – Con cũng chưa nộp.
Thầy cầm cây bút chì đỏ lên, kéo bản in phương án sơ bộ của cô, bản đã nộp hôm mười bốn, còn để trên bàn.
– Vòng ba còn hơn ba tuần. – Ông nói. – Lên làm đi. Hôm nay ngày gì mà đứng đó hoài.
Cô đi lên lầu một. Ở chiếu nghỉ, cô dừng lại, nhìn xuống. Thầy Lộc đang cầm bó hồng trắng lên, chậm, bằng tay phải run, đưa lên mũi. Rồi ông đặt nó vào cái ống đựng bản vẽ trống ở cạnh bàn, cắm đứng, như cắm một cây chống.
Năm giờ chiều cùng ngày, Thạch dựng xe đạp ở đầu hẻm sau chợ Bà Chiểu.
Ba Miên đang ngồi sạp, kẹp một cái chìa đồng vào cái êtô nhỏ, giũa bằng tay. Không dùng máy. Thấy anh, ông gật đầu, chỉ cái ghế đẩu bên cạnh. Thạch ngồi xuống.
– Con xin lỗi chú. – Anh nói.
– Xin lỗi gì?
– Chú nhờ con giữ. Hôm cổ gọi, con nói hết. Con nói cả chuyện chú nhờ con giữ.
Ông Sáu giũa thêm mấy nhát. Mạt đồng rơi xuống tấm vải lót.
– Cậu nói đúng. – Ông nói. – Tui nhờ sai.
– Dạ không. Con…
– Tui nhờ sai. – Ông lặp lại, giọng không lớn mà chắc như vữa đã khô. – Nó nghỉ ở nhà hơn hai tuần, ngồi đây đánh chìa với tui. Đánh hư mười một cái. Tới cái thứ mười hai thì trúng. Rồi nó đi. Sáng nay nó đi làm lại.
Thạch thở ra. Anh không biết mình nín thở từ lúc nào.
– Còn cậu. – Ông Sáu nói. – Nó có nói chuyện với cậu chưa?
– Dạ chưa. Cổ chào con một câu. Hôm nộp hồ sơ.
– Ừ. – Ông Sáu gật đầu, như nghe một con số đúng như mình đoán. – Nó giận ba ngày rồi hết. Mà ba ngày của nó tính theo lịch riêng.
Ông tháo cái chìa đồng khỏi êtô. Một cái chìa cũ, đầu tròn có đục một lỗ hình đồng tiền, thân dài hơn chìa bây giờ, răng đã mòn một nửa, nửa kia mới giũa sáng loáng. Ông thổi mạt đồng, rồi đặt nó vào lòng bàn tay Thạch.
– Cậu giữ giùm tui cái này.
– Dạ, chìa gì chú?
– Chìa cửa một cái nhà. – Ông Sáu nói. – Hồi xưa nó mở được. Rồi người ta thay ổ. Tui giũa lại cho vừa, giũa hoài không xong. Tay tui không còn chắc. – Ông nhìn cái chìa trong tay Thạch. – Cậu giữ. Chừng nào xong thì tui nói nó mở cửa nào.
Thạch nắm cái chìa lại. Đồng còn ấm hơi tay người giũa. Anh không hỏi thêm. Anh đã học được từ ông thợ này rằng có những câu hỏi đúng chỗ, và có những câu phải để cho người kia tự tới.
Sáu giờ, anh đạp xe về. Tới chân cầu, điện thoại rung. Không phải Miên. Ly gửi vào nhóm chat chung của hai đội, cái nhóm lập từ tháng Chín để chia lịch đọc mốc, đã im lặng hơn hai tuần.
Một tấm ảnh chụp trang đầu của một văn bản có đóng dấu đỏ. "Báo cáo kết quả kiểm định hiện trạng kết cấu. Công trình: nhà số 9 và nhà số 14, dãy Mười Bốn Căn." Dòng kết luận được ai đó khoanh bằng bút đỏ:
"Xếp loại: nguy hiểm. Đề nghị di dời người sử dụng và lập phương án xử lý."
Bên dưới là tin nhắn của cô Út Nhị, gõ không dấu, như người đang run tay: "Con Khiem no dua cho co roi. No noi tuan sau co phai don di."
— Hết chương 22 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe