Chương 31: Kế hoạch thử tải
– Xôi bắp. Má con Miên nấu. Anh ăn được không?
– Ăn được.
Bảy giờ sáng thứ Sáu, ba Miên đứng trước cái bàn trong xưởng Gạch Thẻ, đặt một gói xôi gói lá chuối xuống cạnh ly trà của thầy Lộc. Miên đứng ở cửa. Cô chở ba tới, như hôm tháng Mười Hai. Lần này ba không bảo cô đứng ngoài.
Thầy Lộc nhìn gói xôi. Rồi nhìn ba cô. Rồi nhìn qua vai ba cô, về phía cửa, nơi Miên đứng.
– Con Miên biết rồi hả.
– Biết rồi anh. – Ba cô nói. – Tối qua. Thằng Thạch nghe ông Hoành kể, rồi tui kể phần tui.
Thầy Lộc ngồi im một lúc lâu. Tay phải ông nằm trên đùi, run đều. Rồi ông kéo gói xôi lại gần, mở lớp lá chuối ra bằng một tay, chậm, từng nếp lá. Hơi nóng bốc lên mùi nước cốt dừa và mùi bắp non. Ông bẻ một miếng, bỏ vào miệng, nhai.
– Ngon. – Ông nói. – Bà xã anh nấu ngon.
– Bả nói anh gánh giùm nhà tui hai mươi tám năm, không biết anh có ăn xôi không.
Thầy Lộc ngừng nhai. Ông nhìn xuống gói xôi rất lâu, như nhìn một bản vẽ mà một chi tiết nhỏ mình chưa từng để ý vừa hiện ra.
– Nói với bả là có. – Ông nói.
Miên bước vào. Cô đứng trước bàn thầy, chỗ cô đã đứng đêm ba tháng Mười Một, chỗ cô đã nói những câu cô không rút lại được.
– Thầy. Con xin lỗi thầy.
– Xin lỗi cái gì?
– Đêm tháng Mười Một. Con nói thầy trả nợ bằng con.
Thầy Lộc bẻ thêm một miếng xôi.
– Mày nói cái mày biết. – Ông nói. – Người ta chỉ đo được cái người ta thấy. Thấy thêm thì đo lại. – Ông nhai, nuốt. – Lên làm đi. Còn năm tuần.
Năm tuần. Từ sáng thứ Sáu mười ba tháng Ba tới sáng thứ Hai hai mươi tháng Tư.
Chiều hôm đó, lầu căn số bảy họp. Không có vạch băng keo. Một cái bàn dài, hai đội ngồi lẫn lộn, Tùng ngồi cạnh Ly, Phi ngồi cạnh chị Phượng, anh Vĩnh ngồi đối diện ba Sáu. Thầy Lộc ngồi ghế mây mang từ xưởng qua, đặt ở đầu bàn. Ông Hoành không tới. Thạch đã nói với ông, và ông nói ông chưa tới được, ông còn phải làm một việc.
Chị Phượng đứng dậy. Chị không mở máy tính. Chị cầm một cây bút lông, đi tới tấm bảng trắng dựa ở chân tường, viết ba chữ thật to.
"KHÔNG CÃI LỜI."
– Hội đồng không tin lời. – Chị nói. – Hội đồng có một ông kỹ sư của Sở, một ông của phường, và một người kiểm định độc lập do hội đồng mời. Bên công trình cạnh nhà cũng được mời tới ngồi nghe. Họ ngồi một buổi sáng. Họ đọc hồ sơ. Ai nói hay họ cũng nghe vậy. Cái họ tin là số. Mà phải là số họ thấy được tận mắt, không phải số trong sổ của mình.
Chị vẽ hai cột trên bảng. Căn chín. Căn mười bốn.
– Căn chín. – Chị gõ đầu bút vào cột trái. – Nó nứt mới là thật. Mình không chối. Mình chứng minh nó nứt vì cái gì. Năm tháng mốc nguyên, bên kia đào là nó lên. Vậy thì mình phải chứng minh tiếp: bên kia ngừng là nó ngừng.
– Bên kia không ngừng. – Thạch nói. – Họ có giấy phép.
– Thì bắt họ làm đúng giấy phép. – Chị Phượng nói. – Đào hai tầng hầm cách nhà dân năm mét thì phải có tường chắn. Họ làm cừ thép tạm, đóng sơ sơ, không tới độ sâu. Họ bơm nước ngầm ra suốt đêm không quan trắc. Mình đo. Đo rung lúc họ đào. Đo lún ở chân tường sau căn chín, căn tám, căn mười. Đo mực nước trong cái giếng của nhà ông giáo căn tám. Mỗi ngày. Có số rồi mình đem ra phường, mời họ ngồi lại.
Anh Vĩnh gật đầu. Phi giơ tay.
– Em thuê được máy đo rung. – Phi nói, rụt rè như mọi khi. – Bạn em làm bên trường đại học. Có ghi dữ liệu tự động, có ngày giờ.
– Tốt. – Chị Phượng nói. Rồi chị gõ sang cột phải. – Căn mười bốn. Cái này khó hơn. Mái sập, hai cây đà sau mục đầu, tường hồi nghiêng mười một li. Báo cáo của ông Trịnh không sai. Nhà đó yếu thật. Hội đồng sẽ hỏi: yếu tới đâu? Có ở được không? Có sửa được không? Hay phải đập?
Chị viết thêm một dòng dưới cột phải. "THỬ TẢI."
– Mình thay hai cây đà mục. Mình gia cố tường hồi. Xong mình chất tải lên sàn lầu căn mười bốn, đúng bằng tải trọng người ta ở, cộng thêm một phần dự trữ. Đặt đồng hồ so dưới cây đà chính. Đo độ võng từng cấp tải. Giữ tải hai mươi bốn tiếng. Dỡ tải, đo xem nó có trở về không. – Chị đẩy kính lên. – Mời hội đồng tới coi. Mời cả ông Trịnh. Mời cả anh Khiêm. Ai muốn đứng dưới cây đà thì đứng.
Cả bàn im.
– Chất tải bằng gì chị? – Tùng hỏi. – Bao cát hả?
– Bao cát thì phải khiêng lên lầu gần năm tấn, rồi khiêng xuống lại. – Chị Phượng nói. – Mình chất bằng nước. Túi bạt chứa nước, đặt kín sàn, bơm nước vô từng cấp. Muốn dỡ thì xả van. Không ai phải khiêng gì. Nước trong túi bạt không đè lên một điểm, nó trải đều như người ta đi đứng trên sàn.
Thầy Lộc ở đầu bàn gật đầu. Một cái gật rất nhỏ.
– Cây đà chính. – Ông nói. – Cây có khắc chữ.
– Dạ. – Chị Phượng nói. – Đồng hồ so đặt ngay dưới chữ "LH 95".
Thầy Lộc không nói gì thêm. Nhưng Miên thấy tay phải ông, bàn tay run, nắm lại trên đùi, như người ta nắm một cái gì đó đang muốn trượt khỏi tay.
Năm tuần sau đó Miên nhớ như một chuỗi con số.
Ngày mười sáu tháng Ba: máy đo rung đặt ở chân tường sau căn chín. Giờ cao điểm, lúc máy đào bên kia múc đất và máy ép cừ chạy, chỉ số rung vượt ngưỡng khuyến cáo cho nhà cũ gần ba lần. Phi in biểu đồ, ghi giờ, dán lên tấm bảng trắng.
Ngày mười chín: chín mốc đo lún dán ở chân tường sau ba căn tám, chín, mười. Anh Vĩnh và chị Phượng thay nhau đọc bằng máy thủy bình mỗi sáng sáu giờ, trước khi bên kia bắt đầu đào. Căn chín lún thêm hai li trong năm ngày. Căn tám, căn mười, một li.
Ngày hai mươi: mực nước trong cái giếng nhà ông giáo căn tám, cái giếng ông vẫn dùng tưới kiểng, tụt bốn tấc trong một tuần. Ông giáo dạy văn đứng nhìn thước dây thả xuống giếng, nói "giếng nhà tui sáu chục năm chưa bao giờ cạn tới đây".
Ngày hai mươi lăm: buổi làm việc ở phường. Một cái bàn dài trong phòng họp có quạt trần và tấm bản đồ phường dán tường. Bên này: chị Phượng, anh Vĩnh, Miên, Thạch, bà Thoa chống gậy, Tùng dìu một bên. Bên kia: ông kỹ sư trưởng của công trình khách sạn, ông giám đốc dự án, và Khiêm. Chị Phượng không nói nhiều. Chị đặt lên bàn bốn tờ biểu đồ: rung, lún, mực nước giếng, độ mở vết nứt. Bốn đường, cùng một trục thời gian. Ba đường đo trong tháng Ba vọt lên đúng những giờ bên kia đào, nằm xuống những giờ bên kia nghỉ. Đường thứ tư, độ mở vết nứt, nằm phẳng năm tháng rồi gãy lên ngay sau ngày mười tháng Hai.
Ông kỹ sư trưởng bên kia nhìn bốn tờ biểu đồ rất lâu. Ông là người làm đúng nghề. Ông không cãi.
– Cừ của tụi tôi đóng chưa tới độ sâu thiết kế. – Ông nói. – Nhà thầu phụ làm ẩu trong mấy ngày cận Tết. Tôi nhận.
Khiêm ngồi bên cạnh ông, nhìn bốn đường gãy lên, mặt không đổi. Nhưng Miên thấy anh ta lấy điện thoại ra, chụp từng tờ một. Chụp kỹ, như người muốn mang về nhà coi lại.
Ngày hai mươi tám: công trình bên kia ngừng đào. Đóng lại cừ thép tới độ sâu thiết kế, thêm một hàng chống ngang trong hố đào, giảm bơm nước ngầm, lắp mốc quan trắc riêng. Mất mười một ngày.
Ngày một tháng Tư: chị Phượng dán mốc thạch cao mới ngang qua vết nứt căn chín, ghi "1/4". Số một viết thẳng băng, không ai nhầm được.
Ngày mười lăm tháng Tư: mốc "1/4" còn nguyên. Mốc lún đứng yên năm ngày liền. Nước trong giếng nhà ông giáo lên lại hai tấc.
Trong năm tuần đó, căn mười bốn cũng thay đổi. Ba Sáu và sáu ông thợ già dựng cây chống, tháo hai cây đà mục. Họ thay bằng hai cây gỗ căm xe mua lại từ một căn nhà cổ bị dỡ ở miền Tây, cùng loại gỗ với cây đà cũ. Thầy Lộc đi mua với chị Phượng, tự tay gõ từng cây. Tường hồi được giằng thép âm, trát lại bằng vữa vôi mẻ đầu tiên ba Sáu ủ từ tháng Một. Mái mới chưa lợp, chỉ che bạt.
Cây đà có khắc "LH 95" thì không ai đụng tới. Ba Sáu chỉ làm sạch nó bằng bàn chải lông, cẩn thận như lau một tấm bia.
Chiều thứ Năm mười sáu tháng Tư, hai ngày trước buổi thử tải, Miên đứng ở tầng trệt căn mười bốn. Phi và anh Vĩnh đang lắp cái đồng hồ so lên chân đế từ tính, mũi kim chạm vào mặt dưới cây đà chính, ngay dưới chữ "LH 95".
Có tiếng giày da gõ trên gạch bông. Ông Hoành bước vào.
Ông đã không tới dãy nhà năm tuần nay, từ cái đêm ông kể cho Thạch. Thạch nói ông ở văn phòng mỗi ngày tới khuya, ông gặp luật sư, ông gặp hội đồng quản trị của Đa Tầng. Thạch không biết ông gặp họ để làm gì. Ông chỉ nói "một việc".
Ông đứng nhìn cái đồng hồ so dưới cây đà. Rồi ông ngẩng lên nhìn chữ "LH 95".
Thầy Lộc đang ngồi trên cái ghế đẩu sát tường mặt tiền, chỗ góc khô ngày mưa tháng Tám. Ông không đứng dậy.
– Anh Lộc. – Ông Hoành nói.
– Ừ.
– Thứ Hai em đi họp hội đồng. – Ông Hoành nói. Giọng ông không lớn, nhưng tầng trệt căn mười bốn trống trơn, tường gạch thẻ dày ba tấc, và mọi người đều nghe. – Luật sư bên thằng Khiêm sẽ đọc tên anh. Em sẽ đứng lên. Em sẽ nói.
Phi buông cái cờ lê. Anh Vĩnh đứng im. Miên quay sang Thạch, đứng ở chân cầu thang. Thạch không nhìn cô. Anh nhìn ông Hoành.
Thầy Lộc từ từ đứng dậy khỏi ghế đẩu. Tay phải ông vịn tường. Ông đi tới, chậm, nghỉ một nhịp mỗi bước, như leo cầu thang. Ông dừng lại trước mặt ông Hoành, cách một sải tay, ngay dưới cây đà khắc chữ.
– Mày mà nói. – Ông nói, giọng khàn như giấy nhám. – Tao không nhìn mặt mày nữa.
– Hai mươi tám năm nay anh có nhìn đâu. – Ông Hoành nói.
Thầy Lộc đứng sững. Ông Hoành cũng đứng yên. Hai ông già đứng đối diện nhau dưới cây đà có chữ "LH 95" và vạch mực "+3,20", và bên dưới, mũi kim của cái đồng hồ so chạm vào mặt gỗ, chỉ đúng số không.
— Hết chương 31 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe