Chương 36: Cánh cửa hai mét mười
– Anh tới hồi nào?
– Sáu giờ mười lăm.
– Em tới sáu giờ rưỡi.
– Anh biết. – Thạch nói. – Năm ngoái em tới bảy giờ kém mười lăm. Anh tính em sẽ tới sớm hơn mười lăm phút cho chắc. Anh tới sớm hơn nữa.
Miên đứng dưới gốc me trước căn số một, tay còn cầm chìa khóa xe. Chiếc xe đỏ đô của cô đã thay đèn xi nhan bên trái từ tháng Năm, không còn miếng băng keo đen dán ngang. Nhưng yếm vẫn tróc sơn, vì cô không cho ai sơn lại. Cạnh nó, chiếc xe đạp thể thao màu xám của Thạch, dựng ngay ngắn.
Không có sợi xích nào quấn qua bánh xe cô.
Cô nhìn bánh trước xe mình. Rồi nhìn anh.
– Anh không khóa?
– Anh khóa vô cây me. – Anh chỉ sợi xích mười hai li vòng quanh gốc me, khóa số, chỉ quấn qua bánh sau xe đạp của anh. – Năm ngoái anh khóa nhầm. Năm nay anh đo kỹ rồi.
Bảy giờ sáng thứ Bảy mười hai tháng Mười Hai. Chợ Lớn mới dậy, mát, có gió bấc nhẹ thổi từ phía chợ Bình Tây qua, mang theo mùi bánh bao hấp của chú Hai căn mười hai. Dãy Mười Bốn Căn đứng dọc đường Tạ Nguyên Lương, mặt tiền quét vôi vàng mới, vàng đều từ căn một tới căn mười bốn. Thứ màu vàng của vôi trộn bột màu, không bóng, không chói, như nắng sớm rọi lên tường. Cửa lá sách xanh. Mái ngói âm dương. Trên đầu cửa căn số bảy, hai chữ "Vạn Lợi" và con số năm hai mươi tám đã được ba Sáu tô lại bằng vữa vôi mịn, từng nét, mất một tuần. Chữ không mới. Nó chỉ không còn mòn như bánh xà bông dùng gần hết.
Căn số mười bốn ở cuối dãy, cửa chính đóng.
Khánh thành không có băng rôn. Bà Thoa không cho. Bà nói nhà người ta ở thì không cần băng rôn, cần người ở. Không có cắt băng. Không có ai phát biểu. Chỉ có cả dãy đứng trước cửa nhà mình, mười ba hộ và một căn trống sắp hết trống. Mười một giờ thì cô Chín mở quán đãi hủ tiếu cả xóm, không lấy tiền ai, kể cả người cãi.
Tám giờ, mọi người tới.
Thầy Lộc và ông Hoành tới cùng một chiếc xe ôm, anh Tâm chở, chạy chậm như chở đồ cổ. Hai ông xuống xe, ông này đỡ ông kia, không ai nhớ ai đỡ ai trước. Thầy Lộc bảy mươi ba tuổi, tay phải vẫn run, đeo cái kính lão mới mà ông Hoành bắt mua. Ông Hoành bảy mươi mốt, đã rời hẳn ghế cố vấn Đa Tầng từ tuần trước, hôm nay mặc áo sơ mi ca rô cài tới nút trên cùng. Thầy Lộc nhìn cái áo, nói "mày bắt chước tao", ông Hoành nói "áo anh xấu, em mặc cho anh thấy nó xấu cỡ nào".
Ba má Miên tới bằng chiếc xe số độ cần số lên tay lái. Má Liên mặc áo dài màu hồng, cái áo dài má bắt Miên mặc đi xem mắt năm ngoái mà Miên không chịu. Ba Sáu mặc áo sơ mi trắng đi đám cưới, cái chân trái bước xuống xe trễ một nhịp như mọi khi.
Chị Phượng tới với chồng và hai đứa song sinh mười một tuổi, hai đứa nhỏ chạy thẳng vô căn số ba đòi ông Diệp dạy đánh cờ. Tùng và Ly tới cùng nhau, nắm tay, không ai véo ai. Phi tới, ôm cái máy quét laser trong tay như ôm con mèo, nói để quét lưu hiện trạng ngày khánh thành. Anh Vĩnh tới. Ông Trịnh tới, đứng ở góc, không nói gì, đi một vòng coi từng miếng thạch cao trên tường căn chín. Tường giờ đã được trét lớp vữa hoàn thiện bao quanh, chừa mỗi miếng mốc ra một ô nhỏ như một khung tranh. Khiêm tới, đứng cạnh bà nội, cầm một cái hộp. Lần này không thắt nơ. Bên trong là mười hai tấm biển gỗ nhỏ khắc tên mười hai vị thuốc bắc, để treo trước mười hai phòng lưu trú trên lầu.
Giáo sư Hựu không tới được. Ông gửi từ Huế một bức thư tay. Bà Thoa đọc to giữa sân căn số bảy, đúng một câu: "Cái nhà đứng được thêm một trăm năm nữa thì các cô cậu nhớ khắc tên mình lên đâu đó cho người sau biết hỏi ai."
Bà Thoa gấp bức thư lại, nhìn quanh sân.
– Nghe chưa. – Bà nói. – Ổng bắt khắc tên.
Chín giờ, cả xóm đứng trước cửa căn số mười bốn.
Cái cửa gỗ dầu, sơn màu gụ, màu lớp sơn trong cùng mà ngày đầu tiên Miên thấy dưới lớp xanh lá và lớp vàng. Bản lề vẫn là bản lề cũ, tháo ra, lau sạch, tra dầu, lắp lại. Và ổ khóa.
Ổ khóa là một cái ổ đồng cũ, to bằng bàn tay, mặt ổ chạm một hình đồng tiền. Tháng Bảy, khi dọn tủ áo cẩn xà cừ trên lầu căn số bảy, bà Thoa lôi nó ra từ đáy ngăn kéo, cạnh cái nón phớt nỉ xám, cạnh cục băng keo xanh của Tùng. Bà nói năm hai nghìn lẻ hai thằng Thế Khiêm hồi nhỏ làm mất chìa căn mười bốn, ông nhà thay ổ mới, ổ cũ bà cất. Ổ cũ còn tốt. Chỉ không còn chìa.
Thạch đứng trước cửa. Ba Sáu đứng sau lưng anh.
– Ba. – Thạch nói, không quay lại. – Ba nói hôm nay ba nói con mở cửa nào.
– Ừ. – Ba Sáu nói. – Cửa này.
Ông bước lên, đứng ngang hàng với Thạch, nhìn cái ổ khóa đồng.
– Năm chín lăm sửa xong căn này, ông Lộc giao tui giữ chìa cửa, chờ bà Thoa nhận nhà. – Ông nói, giọng thợ, không lên không xuống. – Tui giữ. Rồi tui qua làm cái kho. Rồi tui nằm viện. Rồi tui quên trả. Mà không phải quên. Tui giữ. Tối nào ngồi ở sạp không có khách, tui lấy ra xoay chơi. – Ông ngừng. – Năm ngoái con Miên về nói Mười Bốn Căn, tui lấy ra coi, thấy răng mòn, tui giũa. Giũa cho vừa cái ổ tui không còn thấy. Giũa đoán. Tháng Bảy bà Thoa lôi cái ổ ra, tui mới giũa cho đúng.
Thạch móc cái chìa đồng trong túi ra. Đầu tròn, lỗ hình đồng tiền. Răng sáng loáng.
Anh tra nó vào ổ. Nó lọt vào nhẹ nhàng, không vướng, không lỏng. Anh xoay. Một vòng. Ổ khóa kêu cách một tiếng nhỏ, khô, như gỗ chạm gỗ.
Cửa mở. Bản lề kêu đều, đúng cái tiếng Miên đã nghe ngày đầu tiên.
Bên trong, tầng trệt căn mười bốn sáng rực. Nền gạch bông cũ, những viên còn tốt được giữ lại, những viên vỡ được thay bằng gạch mới đặt làm theo mẫu hoa thị trên kệ lầu hai xưởng Gạch Thẻ ngày xưa. Đó là mẫu Miên đã vẽ vào sổ ký họa năm hai nghìn mười tám. Mười cái thùng phuy vôi xếp dọc tường hậu. Một cái bàn gỗ dài. Trên tường, một tấm biển gỗ, chữ khắc tay, sơn đỏ:
"Xưởng nghề vữa vôi. Hà Sáu."
Ba Sáu đứng nhìn tấm biển. Ông không nói gì. Má Liên nắm tay ông.
Mọi người đi vào. Thầy Lộc đi vào. Ông Hoành đi vào. Họ đứng dưới cây đà chính, cây đà gỗ căm xe có khắc "LH 95", có vạch mực "+3,20", có chín vạch khía nhỏ. Chỗ đồng hồ so đặt tháng Tư giờ là một khoảng trống. Thầy Lộc ngẩng lên nhìn chữ khắc rất lâu.
– Ông giáo sư bắt khắc tên. – Ông nói, không nhìn ai. – Con Miên. Thằng Thạch.
Ông móc trong túi áo ngực ra một con dao nhíp nhỏ, lưỡi gập, cán sừng đã mòn. Miên chưa từng thấy nó. Ông Hoành nhìn con dao, và Miên thấy ông biết nó.
– Con dao nạy cái đinh. – Ông Hoành nói khẽ.
– Ừ. – Thầy Lộc nói. – Giờ khắc chữ.
Thạch kéo cái thang tre vào. Cái thang mượn của cô Chín, đứng lên là nó rên như người già. Miên leo lên trước. Bậc thứ bảy. Cô cầm con dao nhíp, khắc dưới chữ "LH 95" hai chữ cái và hai con số. Nét khắc nông, run một chút vì cái thang rên. Rồi cô đưa dao xuống cho Thạch. Anh leo lên bậc thứ sáu, đứng sát dưới cô, khắc nét cuối cho chữ cái thứ hai.
"MT 26."
Cô nhìn xuống. Ba Sáu đứng dưới chân thang.
– Ba. – Cô nói. – Ba khắc.
– Thợ không khắc tên lên nhà người ta. Xui. Nhà nhớ mặt.
– Nhà nhớ mặt ba ba mươi mốt năm rồi. – Thầy Lộc nói từ phía sau. – Khắc đi Sáu. Lần này khắc.
Ba Sáu nhìn thầy Lộc. Rồi nhìn ông Hoành. Ông Hoành không nói gì. Ông bước tới, giữ chân thang cho ba Sáu leo lên.
Ba leo lên chậm, cái chân trái chạm từng bậc trễ một nhịp. Miên leo xuống nhường chỗ. Ba đứng ở bậc thứ năm, cầm con dao nhíp, khắc dưới hàng chữ của con gái một chữ duy nhất, nhỏ, nét chắc như miết bay:
"Sáu."
Rồi ông leo xuống.
Mười giờ, cả xóm đã ra quán cô Chín. Miên và Thạch ở lại trước căn mười bốn, đứng ngoài ngưỡng cửa chính.
Thạch móc cây thước gấp ra. Mười khúc, đinh đồng ở giữa đã xỉn bớt, không còn sáng như hôm tán trên bờ kênh. Anh xòe nó ra. Cô cầm đầu số không, đặt sát ngạch cửa. Anh kéo lên. Vạch hai trăm dừng dưới đố cửa chưa tới một gang tay. Cô đặt ngón cái giữ đúng vạch đó, anh lật khúc đầu lên, đo nốt. Chỉ một lần lật, không ai phải chồng đầu một trăm lên vạch một trăm, và ngón cái cô không dịch li nào.
– Hai mét mười. – Anh đọc.
– Hai mét lẻ chín, rưỡi.
– Làm tròn.
– Làm tròn là tật của người không đo được. – Cô nói.
Anh gập cây thước lại. Rồi anh nhìn cô, cái mặt không nhăn một chỗ nào, cái mặt cô đã thấy dưới chân cái thang tre đúng một năm bốn tháng trước.
– Hai mét mười. – Anh nói. – Đủ cho hai người đi vô cùng lúc không?
Miên nhìn cái khung cửa. Rồi cô lấy cây thước từ tay anh, xòe ra, đo bề ngang. Một mét hai.
– Đủ. – Cô nói. – Nếu đi sát.
– Đi sát thì được không?
Cô gập cây thước, bỏ vào túi áo anh. Cô nắm tay anh. Họ bước qua ngưỡng cửa cùng một lúc, vai chạm vai, và cái khung cửa hai mét lẻ chín rưỡi, một mét hai, vừa khít.
Chiều hôm đó, bà Thoa treo cây thước lên vách phòng khách căn số bảy, giữa hai cái đinh, ngay dưới tấm hình ông nội bà dựng nhà năm hai mươi tám. Ở giữa, cạnh cái đinh đồng, có một vết khắc mới bằng mũi dao nhíp, nhỏ xíu, chỉ thấy nếu lại gần: hai chữ cái, một ngày.
Tháng Hai Miên sẽ đi. Một năm.
Dưới gốc me trước căn số một, chiếc xe đỏ đô và chiếc xe đạp xám đứng cạnh nhau tới tối. Sợi xích mười hai li, sau khi vòng quanh gốc me, đi luồn qua cả hai bánh trước.
Lần này cô không chụp hình.
— Hết —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe