Chương 21: Bản sơ bộ làm lúc nửa đêm
– Đừng ép. Để cái phôi nó tự ăn vô lưỡi dao.
Ba cô nói câu đó mà không nhìn tay cô. Ông đang ngồi trên cái ghế đẩu bên cạnh, khâu lại cái gọng dù bằng một sợi kẽm mảnh, mắt nheo lại dưới cặp kính lão. Miên ngồi trước máy cắt chìa, kẹp một phôi chìa đồng vào ngàm, đẩy nó qua lưỡi dao xoay. Mạt đồng bắn lên mu bàn tay cô, nóng như cát trưa.
Đây là ngày thứ ba cô ngồi ở sạp.
Sáng thứ Tư, cô dậy lúc sáu giờ như mọi ngày, mặc đồ đi làm, rồi đứng ở đầu cầu thang mười phút, không biết đi đâu. Cuối cùng cô đi ra đầu hẻm, kéo cái ghế đẩu ngồi xuống cạnh ba. Ba không hỏi. Ông đẩy qua cho cô cái thùng dù hư, bảo lựa ra cây nào gãy gọng, cây nào rách vải. Chiều thứ Tư, ông dạy cô đánh chìa. Không giải thích. Ông làm một lần, rồi đứng dậy, đưa ghế cho cô.
Cô nói với má là xưởng cho nghỉ phép. Má nhìn cô từ đầu tới chân, hỏi có phải cãi nhau với thằng Thạch không. Cô nói không. Má không tin, nhưng má không hỏi tiếp, chỉ nấu thêm một món mỗi bữa, như người ta bồi bổ cho người bệnh.
Lưỡi dao ăn vào phôi đồng, kêu rít. Cô rút cái chìa ra, so với chìa mẫu. Lệch một răng.
– Bây ép. – Ba nói, vẫn không nhìn.
– Sao ba biết?
– Nghe tiếng.
Cô bỏ cái chìa hỏng vào hộp thiếc, cái hộp đã có bốn cái chìa hỏng khác. Lấy phôi mới.
Trưa thứ Sáu, má đi chợ về, đứng ở cửa nhà, tay cầm cái điện thoại cũ của ba, màn hình còn sáng.
– Ông Sáu. Tháng này tiền bảo hiểm chưa về. Trễ ba ngày rồi. Hai mươi mấy năm nay có bao giờ trễ một ngày.
Ba cô ngồi yên. Cây kìm trong tay ông dừng lại trên cái gọng dù.
– Để con đóng tiền điện cho má. – Miên nói, nhanh hơn cô muốn. – Tháng này con có lương.
– Bây đang nghỉ phép mà có lương?
– Nghỉ phép có lương, má.
Má nhìn cô. Nhìn ba. Rồi má lắc đầu, đi vô nhà, lẩm bẩm chuyện cái công ty bảo hiểm tốt nhất Sài Gòn chắc cũng tới hồi làm ăn thua lỗ.
Miên kẹp phôi chìa mới vào ngàm. Tay cô không run, nhưng cô biết mặt mình đang nóng. Ba người đàn ông đã giấu cô vì thương cô. Giờ cô ngồi đây, giấu má vì thương má, và câu nói dối bật ra trơn tru như vữa vôi có pha mật mía.
Ba cô gỡ kính lão ra, lau vào vạt áo.
– Bây thấy chưa. – Ông nói. Chỉ vậy.
Cô không trả lời. Cô đẩy phôi chìa qua lưỡi dao, lần này không ép. Lưỡi dao ăn vào đồng, êm, đều. Cái chìa ra khớp với chìa mẫu từng răng.
Chiều hôm đó Tùng tới.
Nó dựng xe ở đầu hẻm, đứng nhìn chị nó ngồi trước máy cắt chìa, há miệng, như thấy tượng thạch cao biết đi. Rồi nó lấy lại vẻ mặt kịch tính thường ngày, móc trong ba lô ra một xấp giấy.
– Chị. Em không tới để năn nỉ. Em tới để đưa thư.
Thư thứ nhất là một bức tranh của bé Na. Căn số mười bốn, có hai cửa sổ làm mắt, lần này không mếu, không khóc. Trước cửa có một con cá chép lồng đèn bị rách vây. Trên nóc nhà có hai người que, một người cầm cây bay, một người cầm cây thước. Góc dưới con bé viết bằng bút chì màu, chữ to nhỏ không đều: "Cô Miên đâu rồi. Nhà nhớ cô."
Thư thứ hai là một tờ giấy học trò gấp làm tư. Chữ cô Chín, nét to, mực bút bi đỏ: "Trà đá miễn phí. Không cãi cũng miễn phí. Về đi con."
Thư thứ ba không có chữ. Chỉ là một miếng thạch cao cỡ bao diêm, gói trong khăn giấy. Tùng nói cô Út Nhị cạy nó ra từ một chỗ tường bị bể ở căn chín, không phải chỗ có mốc, rồi tự tay ghi lên đó bằng bút chì: "6/11. Còn nguyên." Chữ số chín không có trong đó, nên không ai biết cô Út viết số chín giống số mấy.
Miên cầm miếng thạch cao trong lòng bàn tay rất lâu.
– Phương án sơ bộ thì sao? – Cô hỏi, không ngẩng lên.
– Hồ sơ hiện trạng xong rồi chị, hai bên ký chung rồi. Còn phương án thì em dựng mô hình được, chị Phượng tính kết cấu được. Mà cái ý tưởng thì… – Tùng gãi đầu. – Cái mạng bể ngầm chị nói đêm ngập, chị chưa vẽ ra. Không ai vẽ được trừ chị. Hạn là thứ Sáu tuần sau.
– Thầy nói gì?
– Thầy không nói gì. – Tùng hạ giọng. – Mà mỗi tối thầy về, đèn bàn chị trên lầu một vẫn để sáng. Chị Phượng nói thầy dặn đừng tắt. Thầy nói để đèn sáng, ăn trộm tưởng có người ở.
Mười một giờ rưỡi đêm đó, Miên nói với má là cô đi ra tiệm thuốc tây. Cô chạy xe tới hẻm Ba Cây Me.
Đèn bàn cô trên lầu một đúng là còn sáng. Một vệt vàng hắt ra cửa sổ, xuống mặt hẻm tối, như ai để sẵn một ngọn đèn dầu cho người đi đêm. Cô mở cửa bằng chìa của mình. Tầng trệt tối om, cái ghế mây trống. Cô leo lên lầu một.
Trên bàn cô, mọi thứ y như ngày cô bỏ đi, chỉ thêm hai thứ. Một hộp cơm, đã nguội, trứng chiên mặn, cái kiểu trứng chiên chỉ có một người làm. Và bản in thử phương án sơ bộ dở dang của cô, ai đó đã in ra từ máy tính của cô, xếp ngay ngắn, trên đó có ba chấm bút chì đỏ.
Không gạch. Không khoanh. Chỉ là ba chấm. Một ở mặt cắt căn số mười bốn, chỗ cô chưa vẽ cây chống. Một ở bảng dự toán, chỗ cô quên tính tiền ủ vôi. Một ở khoảng trống dưới sân căn số bảy, nơi cô định vẽ cái mạng bể ngầm mà chưa vẽ được.
Cô ngồi xuống. Cô ăn hộp cơm nguội. Rồi cô làm tới bốn giờ sáng.
Đêm thứ hai, có bốn chấm đỏ. Cô đã sửa ba chấm hôm trước, chấm thứ tư mới. Đêm thứ ba, hai chấm. Đêm thứ tư, chỉ có một chấm, nằm ngay giữa cái mạng bể ngầm cô vừa vẽ: mười bốn cái bể nối nhau dưới mười bốn cái sân bằng một đường ống gạch. Cạnh cái chấm có hai chữ viết bằng bút chì đỏ, nét run nhưng thẳng:
"Hỏi người."
Sáng hôm sau, cô không ngồi ở sạp. Cô chạy xe tới Chợ Lớn lúc bảy giờ, khi dãy Mười Bốn Căn còn chưa mở cửa, gõ cửa tiệm thuốc bắc căn số ba.
Ông Diệp ra mở cửa, áo thun ba lỗ, tay cầm bình trà. Ông nhìn cô, không hỏi mấy ngày nay cô đi đâu.
– Ông ơi. – Cô nói. – Mùa mưa nước ở cái sân sau nhà ông rút đi đâu?
Ông Diệp nhìn cô thêm một lúc. Rồi ông cười hà hà, đứng tránh qua một bên cho cô vào.
– Hỏi trễ ba tháng. – Ông nói. – Vô đây. Ngồi xuống. Ông vẽ cho coi.
Ông vẽ bằng ngón tay chấm nước trà lên mặt bàn gỗ. Hồi trước năm bảy lăm, cả dãy có ba cái bể, không phải một: một dưới sân căn bảy, một dưới sân căn ba, một dưới sân căn mười hai. Ông nội bà Thoa xây ba cái, nối với nhau bằng một cái cống gạch chạy dọc hẻm hậu. Bể căn ba bị lấp năm tám mươi mốt khi ông lát lại sân. Bể căn mười hai thì ông không biết. Ông chỉ biết mùa ngập, nhà ông ngập sau nhà bà Thoa đúng ba tiếng.
– Ba tiếng là cái bể bên kia đầy rồi mới tràn qua. – Ông Diệp nói, gõ ngón tay lên vệt nước trà đang khô dần trên mặt bàn. – Con muốn làm lại thì đừng làm mười bốn cái. Làm ba cái cho đúng chỗ. Ông nội bà Thoa không dư tiền mà ổng còn biết vậy.
Cô vẽ lại cả mạng bể ngầm trong hai đêm. Ba cái bể. Một cái cống. Đêm cuối cùng, trên bản in, không còn chấm đỏ nào.
Tối thứ Năm mười ba, Thạch ngồi một mình trên lầu căn số bảy.
Bên này vạch băng keo xanh, bàn anh ngổn ngang giấy. Bên kia vạch, bàn của Miên trống trơn từ mười ngày nay, chỉ có cái đèn kẹp tắt và cuộn băng keo xanh dương cô dùng để dán vạch hôm đầu tiên, nằm im như một con ốc.
Bộ sơ bộ của Đa Tầng nằm trên màn hình anh, bản phó tổng đã sửa. Giữ lại lớp mặt tiền vôi vàng như một cái vỏ, đập hết phần bên trong, dựng khung bê tông cốt thép sáu tầng, mái ngói âm dương đặt lên trên như một cái nón. Phối cảnh đẹp. Dự toán gọn. Lời to.
Ba ngày nay anh đã vẽ lại nó từ đầu.
Giữ trọn mười bốn căn. Gia cố căn mười bốn và căn chín bằng hệ cây chống tạm rồi giằng thép âm trong tường, không đụng tới vữa cũ. Thay ngói. Sửa máng xối. Và dưới sân căn số bảy, một cái bể ngầm vẽ nét đứt màu xanh, nối với hai cái bể khác bằng một cái cống gạch chạy dọc hẻm hậu.
Ba cái, không phải mười bốn. Chiều thứ Tư, anh đã đi gõ cửa từng nhà hỏi nước rút đi đâu. Ông Diệp ở căn số ba vẽ cho anh bằng nước trà lên mặt bàn, rồi cười hà hà, nói một câu anh không hiểu: "Con là đứa thứ hai hỏi ông câu này trong tuần."
Chín giờ tối, Ly lên. Cô đứng ở đầu cầu thang, không bước vào.
– Phó tổng biết anh vẽ lại. – Ly nói. – Phó tổng lên phòng chủ tịch lúc chiều. Em ngồi ngoài, nghe được một câu. Chủ tịch nói: "Để nó ký cái nó tin."
Thạch không ngẩng lên khỏi màn hình. Nhưng tay anh dừng trên con chuột.
– Ly. – Anh nói. – Bên Gạch Thẻ, ai làm phương án?
– Tùng không nói. Em không hỏi. Tụi em có luật. – Ly ngừng. – Nhưng mấy đêm nay Tùng nói đèn lầu một xưởng Gạch Thẻ sáng tới bốn giờ sáng. Mà không phải đèn của nó.
Năm giờ kém hai phút chiều thứ Sáu mười bốn, một chiếc xe số màu đỏ đô dừng dưới gốc me, không có sợi xích nào. Thạch đứng tựa cột hiên căn số bảy, tay cầm ly cà phê đen đã nguội. Anh đã đứng đó từ bốn giờ.
Miên bước vào sân. Áo sơ mi trắng, tóc cột gọn, mắt thâm như người thức trắng nhiều đêm. Cô ôm một ống bản vẽ và một cái hộp mô hình bìa cứng. Bà Thoa ngồi ghế mây, đồng hồ quả quýt mở trên đùi, con Thầu nằm cạnh chân.
– Hai phút. – Bà nói. – Bây thích hai phút lắm hả?
– Dạ.
Cô đặt hồ sơ lên bàn, cạnh bộ của Đa Tầng đã nộp từ sáng. Rồi cô quay ra. Đi ngang qua Thạch, cô dừng lại một nhịp, không nhìn anh.
– Chào anh.
– Chào em.
Đó là toàn bộ cuộc nói chuyện. Cô đi ra gốc me, đạp máy ba lần mới nổ.
Bà Thoa mở hai cái hộp mô hình đặt cạnh nhau. Một cái bìa và gỗ balsa, mái vẽ tay từng viên. Một cái nhựa in ba chiều trắng toát. Bà nhìn rất lâu. Dưới sân căn số bảy của cả hai mô hình, cùng một chỗ, có một khối màu xanh nước biển. Và dọc hẻm hậu của cả hai, cùng một đường cống gạch nối ba cái bể.
Con Thầu nhảy lên bàn, ngửi bên này, ngửi bên kia, rồi nằm xuống ở giữa, như hôm tháng Chín.
– Ông Diệp. – Bà Thoa nói với con mèo. – Ổng kể cho cả hai đứa.
Sáu ngày sau, chín giờ sáng thứ Năm hai mươi tháng Mười Một, ngày Nhà giáo, Miên đứng trên vỉa hè đối diện đầu hẻm Ba Cây Me. Tay cô cầm một bó hoa cúc vàng, chân không bước qua đường được.
Cô đã đứng đó hai mươi phút.
Bên kia đường, cách cô chừng mười mét, dưới bóng một cây me khác, có một người đàn ông cao, tóc bạc chải ngược, áo sơ mi trắng cổ tàu, cũng cầm một bó hoa. Hoa hồng trắng. Ông cũng đứng đó, nhìn vào con hẻm, chân cũng không bước.
Ông quay sang. Họ nhìn nhau qua mặt đường, qua dòng xe máy chạy ngang, mỗi người một bó hoa, như hai học trò cũ đến muộn trước cổng một ngôi trường mình đã bỏ học.
— Hết chương 21 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe