Chương 4: Bà Thoa mời cơm
Miên ôm hộp bánh pía bước qua ngưỡng cửa căn số bảy đúng mười một giờ trưa Chủ nhật, và thấy Kiều Duy Thạch đang ngồi ở bàn tròn giữa sân. Trước mặt anh ta là một giỏ trái cây bọc giấy kiếng.
Anh ta ngẩng lên. Cô đứng lại. Hai người nhìn nhau qua cái giàn bông giấy như hai người đi đám cưới phát hiện mình mặc trùng áo.
– Bà Thoa mời riêng tôi. – Miên nói.
– Bà Thoa mời riêng tôi. – Thạch nói.
Từ trong bếp, giọng bà Thoa vọng ra, kèm tiếng dao chặt xuống thớt:
– Qua mời riêng từng đứa. Ăn thì ăn chung. Ngồi xuống đi, đứng đó cho con Thầu nó cười.
Con Thầu nằm trên bậc thềm, mắt lim dim, không có vẻ gì là đang cười. Miên đặt hộp bánh pía lên bàn, cạnh giỏ trái cây của Thạch. Giỏ của anh ta có nho, táo, một trái sầu riêng nhỏ cắt sẵn bọc màng co. Hộp của cô là bánh pía đậu xanh sầu riêng mua ở tiệm đầu đường. Cô nhìn hai món quà nằm cạnh nhau, rồi nhìn trái sầu riêng của anh ta, rồi nhìn cái hộp bánh có chữ sầu riêng của mình.
– Anh hỏi ai bà thích ăn gì?
– Cô Chín. Còn cô?
– Cô Chín.
Họ ngồi xuống hai cái ghế đối diện nhau, cách cái bàn tròn đường kính một mét hai. Miên tự động tính ra trong đầu, rồi bực mình vì mình tính.
Bà Thoa nấu năm món. Xíu mại sốt cà chua, gà hấp hành, canh khổ qua dồn thịt, một dĩa cải làn xào tỏi, và một dĩa cơm chiên trứng vàng ươm có lạp xưởng thái hột lựu. Bà không cho ai vào bếp phụ. "Bếp của qua, qua biết chỗ cái muỗng." Bà bưng từng dĩa ra, chậm, tay không run, đặt xuống đúng giữa bàn rồi quay vào bưng dĩa tiếp.
Tới dĩa thứ ba thì hàng xóm bắt đầu tới, như thể họ được hẹn giờ. Ông Diệp ở căn số ba mang qua một bình trà, gầy nhom, tóc bạc rễ tre, mặc áo thun ba lỗ, dép lê. Cô Chín ở căn số năm bưng qua một nồi nước lèo nhỏ với một rổ hủ tiếu. Cô Út Nhị mang một dĩa dưa leo chấm muối ớt. Sau cùng là một con bé chừng chín tuổi, tóc cột hai chùm, ôm một xấp giấy vẽ trước ngực, chạy vào, thấy người lạ thì đứng nép sau lưng cô Út Nhị.
– Bé Na, con anh Tâm xe ôm ở căn mười một. – Bà Thoa giới thiệu. – Nó vẽ nhà giỏi hơn bây.
– Con chào cô, con chào chú. – Bé Na nói nhỏ.
– Chú? – Thạch nhìn Miên.
– Anh ba mươi mấy. Tôi ba mươi mốt. Bé nói đúng thứ tự rồi.
– Ba mươi tư. – Thạch nói. – Và tôi chưa thấy cô gọi tôi là anh bằng giọng đó bao giờ.
– Tôi gọi bằng giọng gì?
– Giọng nhân viên ngân hàng nhắc nợ.
Ông Diệp cười hà hà, rót trà vào sáu cái chén nhỏ như hột mít, mời từng người. Ông rót cho Thạch trước, rồi Miên, rồi tự gật đầu một mình như vừa xếp xong thứ tự trên bàn cờ.
Bữa ăn trôi đi chậm, ngon tới mức Miên quên mất mình đang ngồi đối diện ai. Xíu mại mềm, sốt cà chua chua ngọt vừa đủ. Cô Chín chan nước lèo cho từng người, nước trong veo mà ngọt xương. Bé Na ngồi sát bên Miên, rụt rè đưa xấp tranh. Con bé vẽ mười bốn căn nhà, căn nào cũng có hai cửa sổ làm mắt và một cái cửa chính làm miệng, căn thì cười, căn thì mếu. Căn số mười bốn mếu nhất, có một giọt nước mắt màu xanh dương chảy từ cửa sổ xuống.
– Sao căn này khóc vậy con? – Miên hỏi.
– Tại không có ai ở với nó. – Bé Na nói. – Nhà không có ai ở thì buồn.
Thạch ở bên kia bàn nhìn bức tranh. Anh ta không nói gì, nhưng anh ta lấy điện thoại chụp lại tấm tranh, xin phép bé Na trước.
Ăn tới dĩa cơm chiên thì bà Thoa đặt đũa xuống.
– Qua hỏi một câu. Hai đứa trả lời. Không được bàn với nhau.
– Dạ.
– Giả như tiền chỉ đủ sửa bảy căn. Bây sửa căn nào trước?
Thạch trả lời trước, không do dự.
– Căn mười bốn và căn chín, bà. Mười bốn sập mái, mưa thêm hai mùa nữa thì sàn gỗ mục, đà mục, kéo tường mục theo, ảnh hưởng tới căn mười ba. Căn chín có bức tường xây bít, tải trọng lệch, phải kiểm tra móng. Rồi tới những căn có mái dột nặng nhất. Con xếp theo mức nguy hiểm, không xếp theo mức đẹp.
Bà Thoa gật đầu, không nói gì. Bà quay sang Miên.
– Còn con?
Miên đặt đũa xuống. Cô nghĩ tới con số ba tỷ sáu, tới tám mươi tư triệu tiền nhà, tới cái máy in phải đá.
– Con không chọn bảy căn, bà.
– Tiền không đủ thì sao?
– Thì con đi kiếm thêm tiền. – Miên nói. – Ba căn trên lầu đang để trống, có thể làm phòng cho khách lưu trú, thu tiền trả dần. Căn mười bốn sửa xong cho thuê làm xưởng nghề. Con đi xin tài trợ của mấy quỹ bảo tồn. Con chia giai đoạn. Nhưng con không gạch tên căn nào ra khỏi danh sách. Gạch một căn là người ta có cớ gạch căn tiếp theo.
Bà Thoa nhìn cô một lúc lâu. Rồi bà bật cười, tiếng cười khàn mà giòn, như vỏ bánh tráng nướng bẻ đôi.
– Thằng này trả lời giống kỹ sư. Con này trả lời giống con buôn. – Bà quay sang ông Diệp. – Ông thấy sao?
Ông Diệp nhấp ngụm trà, đặt chén xuống.
– Hó. Cả hai đều hó. – Ông nói. – Một người biết nhà bệnh chỗ nào. Một người biết đi kiếm tiền mua thuốc. Bà ghép lại là có bác sĩ giỏi.
– Ông ghép làm sao được. Hai đứa này gặp nhau là cãi.
– Cãi mới ghép được. – Ông Diệp nói. – Hai miếng gỗ phẳng lì áp vào nhau thì trượt. Phải có mộng có lỗ mới khít.
Cả bàn cười. Miên không dám nhìn sang bên kia bàn. Cô cúi xuống gắp cải làn, gắp mãi một cọng không lên.
Bà Thoa nói về vòng ba. Mười bốn căn, mười lăm phiếu, như đã nói. Nhưng bà nói thêm một chuyện mà buổi khảo sát hôm thứ Hai bà không nói.
– Bây tưởng tới vòng ba người ta mới coi bây hả? – Bà gõ ngón tay lên mặt bàn. – Cô Chín coi bây ăn hủ tiếu có bỏ mứa không. Cô Út coi bây vô nhà có chùi chân không. Ông Diệp coi bây có hỏi trước khi đụng vô cái tủ thuốc không. Cả tuần nay rồi. Bây đi tới đâu, có người coi tới đó.
Miên nhớ lại hôm thứ Năm cô ăn tô hủ tiếu ở quán cô Chín, gạt hết hành ra mép tô. Cô liếc qua cô Chín. Cô Chín đang nhìn cô, cười tủm tỉm.
– Con không ăn hành, cô Chín. Con không có bỏ mứa đồ cô nấu. Con dị ứng.
– Cô biết. – Cô Chín nói. – Bữa sau cô không bỏ hành cho con.
Một chiếc xe hơi màu bạc đỗ xịch trước cửa căn số bảy. Tiếng cửa xe đóng. Tiếng giày da gõ trên gạch. Một người đàn ông chừng gần bốn mươi bước vào, sơ mi trắng, quần tây, đồng hồ to bản, tay xách một cái hộp gỗ thắt nơ đỏ. Mặt anh ta có nét giống bà Thoa ở cái cằm và đôi mắt hơi xếch, nhưng nụ cười thì khác: nụ cười của người quen bắt tay.
– Nội. – Anh ta cúi chào. – Con mang yến qua cho nội. Con chào ông Diệp, chào cô Chín, cô Út. – Rồi anh ta quay sang Miên và Thạch, chìa tay. – Châu Thế Khiêm. Cháu nội của bà. Hai anh chị là hai đội bà nội tôi để ý nhất phải không? Bà nội tôi kể rồi.
Bà Thoa không nhận hộp yến. Bà chỉ hất cằm về phía cái bàn thờ trong nhà.
– Để trên đó. Ngồi ăn thì ngồi.
– Dạ con ăn rồi. Con ghé chút thôi.
Khiêm không ngồi. Anh ta đứng, một tay đút túi quần, nhìn quanh sân một vòng: giàn bông giấy, giếng trời, bức tường loang vệt rêu, rồi dừng mắt ở mái ngói trên đầu.
– Anh chị làm nghề, anh chị biết rõ hơn tôi. – Anh ta nói, giọng nhẹ nhàng, không có chút gì khiêu khích. – Nhà gần trăm tuổi. Tường gạch vữa vôi, không có cột bê tông, không có giằng. Năm ngoái căn mười bốn sập mái lúc hai giờ sáng, may không có ai ở. Mùa mưa nào tôi cũng mất ngủ. Tôi có một chủ đầu tư trả bốn trăm tám mươi tỷ cho khu đất này. Mười một hộ đang thuê được đền bù gấp ba giá thị trường, có ưu tiên mua lại căn hộ trong tòa nhà mới. Không ai bị đuổi ra đường.
– Căn hộ tầng mấy? – Cô Chín hỏi, giọng không vui.
– Tầng nào cô thích, cô Chín.
– Cô thích tầng trệt. Nồi nước lèo của cô không lên thang máy được.
Khiêm cười, nụ cười kiên nhẫn của người đã nghe câu này nhiều lần.
– Con hiểu, cô Chín. – Rồi anh ta quay lại phía bà Thoa. – Nội cứ làm cuộc thi. Con không cản. Con chỉ xin nội một điều: tới lúc chọn, nội cho con một ghế ngồi nghe.
– Mày muốn nghe thì ngồi ở ngoài đường mà nghe. – Bà Thoa nói.
Khiêm cúi đầu, không giận, như đã quen bị bà nói vậy. Anh ta chào mọi người, chào cả bé Na, rồi quay ra. Tới bậc thềm, chỗ con Thầu đang nằm, anh ta dừng lại, cúi xuống gãi đầu con mèo. Con mèo né tay anh ta, bỏ đi. Anh ta đứng thẳng dậy, quay lại, nhìn Miên rồi nhìn Thạch, như vừa sực nhớ ra một chuyện nhỏ.
– À. Bà nội tôi không kể với hai anh chị hả?
– Kể gì anh? – Miên hỏi.
– Thế Khiêm. – Bà Thoa nói, giọng sắc lại.
Khiêm vẫn cười.
– Năm chín lăm, dãy nhà này được sửa một lần. Thay ngói, gia cố mấy cây đà. Người sửa là hai ông kiến trúc sư trẻ hùn nhau mở văn phòng. Ông Nghiêm Bá Lộc. Với ông Văn Khắc Hoành. – Anh ta nói rõ từng tên, chậm, như đọc biển số xe. – Thầy của chị. Và thầy của anh.
Miên quay sang Thạch. Thạch ngồi yên, hai tay đặt trên bàn, nhìn thẳng vào Khiêm. Cái chữ H trên cây đà căn mười bốn. Cái "không" anh ta nói trong cơn mưa thứ Năm.
– Hai năm sau. – Khiêm nói tiếp, giọng vẫn nhẹ như đang kể chuyện thời tiết. – Cũng hai ông đó nhận sửa một cái kho gạo của ông nội tôi, bên bờ kênh Tàu Hũ. Kho Hiệp Thành. Cái kho sập trên tay họ. Có người bị đè dưới đống gạch.
Anh ta xỏ tay vào túi quần.
– Tôi chỉ nghĩ hai anh chị nên biết. Nhà cũ không chỉ là chuyện đẹp hay không đẹp.
Tiếng giày da gõ trên gạch, xa dần. Tiếng cửa xe đóng. Chiếc xe màu bạc lăn bánh.
Trong sân căn số bảy không ai nói gì. Ông Diệp rót trà, tiếng nước chảy vào chén nghe rõ mồn một. Bà Thoa nhìn vào khoảng không trước mặt, hai tay đặt chồng lên đầu cây gậy. Bé Na nhìn hết người này sang người kia, không hiểu chuyện gì, ôm chặt xấp tranh vào ngực.
Miên nhìn Thạch qua cái bàn tròn đường kính một mét hai.
– Anh biết. – Cô nói. Không phải câu hỏi.
– Tôi biết H là ai. – Thạch nói. – Tôi không biết cái kho.
Lần này, cô không biết anh ta có nói dối hay không.
— Hết chương 4 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe