Chương 34: Bờ kênh Tàu Hũ
– Tao nói rồi. Mày mà nói thì tao không nhìn mặt mày nữa.
– Anh đang nhìn đó.
Bãi giữ xe bên bờ kênh Tàu Hũ lúc mười một giờ trưa thứ Hai vắng tanh. Một mái tôn dài che mấy hàng xe máy, một cái chòi nhỏ của người giữ xe, một cây bàng già rụng lá đỏ xuống nền xi măng nứt nẻ. Ở cuối bãi, sát bờ kè đá, còn sót lại một đoạn chân tường gạch thẻ dài chừng năm mét, cao tới đầu gối, rêu xanh phủ một nửa. Bên trên người ta dựng tạm mấy tấm tôn làm hàng rào. Ai đi ngang cũng tưởng đó là một bờ tường bể của một cái nhà nào đó người ta quên dọn.
Thầy Lộc ngồi trên đoạn chân tường đó, quay lưng ra kênh. Ông Hoành đứng trước mặt ông, cách hai bước.
Miên dựng xe ở đầu bãi. Cô và Thạch không đi vào. Họ đứng dưới mái tôn, cạnh hàng xe máy, cách hai ông già chừng ba chục mét. Đủ gần để thấy. Đủ xa để không phải nghe. Nhưng bãi xe trưa vắng, gió từ kênh thổi vào, và họ vẫn nghe.
– Mày làm tao mất hai mươi tám năm giữ lời. – Thầy Lộc nói.
– Anh giữ giùm em đủ rồi. – Ông Hoành nói. – Em cảm ơn anh. Em xin lỗi anh. Hai cái đó em nợ anh từ năm chín bảy, hôm nay mới trả.
– Tao đâu có đòi.
– Anh không đòi. Vì vậy mới nặng.
Thầy Lộc không nói gì. Ông cúi xuống nhìn đoạn chân tường mình đang ngồi, đặt bàn tay phải lên một viên gạch thẻ đã mòn cạnh, như đặt tay lên lưng một con mèo già.
– Tường này dày ba tấc. – Ông nói. – Đứng gần chín chục năm. Mày nói đứng thêm mấy ngày không sao.
– Em nói vậy.
– Mày không đo lại.
– Em không đo lại.
Gió từ kênh thổi qua, mang theo mùi nước sông, mùi dầu máy của mấy chiếc ghe chở hàng đậu dọc bờ kè. Ông Hoành vẫn đứng. Ông không ngồi xuống cạnh thầy Lộc, như thể đoạn chân tường đó là chỗ của riêng người kia.
– Sáng nay em gửi thư cho hội đồng quản trị Đa Tầng. – Ông Hoành nói. – Em rời ghế chủ tịch. Từ tuần sau. Em giữ một ghế cố vấn không lương, làm cho tới khi cái dãy nhà của chị Thoa khánh thành. Rồi em nghỉ hẳn.
Thầy Lộc ngẩng lên.
– Mày bỏ cái tháp kính của mày hả?
– Cái tháp kính đứng được không cần em. – Ông Hoành nói. – Nó có giấy phép, có máy quét, có tám chục người. Nó cần một người đo lại hơn là cần em.
Thầy Lộc nhìn ông một lúc lâu. Rồi ông thò tay vào túi áo ngực, chỗ ông vẫn để cây bút chì đỏ. Ông lấy ra một vật nhỏ, vàng, cỡ đốt ngón tay, đặt lên lòng bàn tay, chìa ra.
Cái đinh tán bằng đồng.
Ông Hoành nhìn nó. Ông không cầm.
– Tao bỏ nó trong hồ sơ cái kho. – Thầy Lộc nói. – Tờ biện pháp có chữ ký nháy của mày. Tao kẹp nó vô đó, đóng hộp, cất lên kệ, hai mươi tám năm không mở. – Ông xoay cái đinh trong tay. – Tháng Tám năm ngoái, con Miên về nói bà Thoa mở cuộc thi, nói tên thằng nhỏ cầm hồ sơ bên Đa Tầng. Tao đoán mày giữ nửa kia, hoặc mày đưa cho ai đó. Tao biết hai nửa sẽ gặp nhau ở cái sân đó. Tao lên kho lục cái hộp, lấy cái đinh ra. Tao tính đưa nó cho con Miên. Lục ra rồi tao té cầu thang.
Dưới mái tôn, Miên đứng im. Đêm hai mươi hai tháng Tám. Chị Phượng trong điện thoại: thầy lục tung cái tủ hồ sơ năm chín mươi mấy, thầy không cầm theo tờ giấy nào, thầy chỉ nắm một vật nhỏ xíu trong tay.
Thầy Lộc quay đầu lại. Ông nhìn thẳng về phía mái tôn, về phía cô.
– Con Miên. Thằng Thạch. – Ông gọi, không lớn. – Đứng đó nghe lén hoài. Lại đây.
Họ đi tới. Ba chục mét trên nền xi măng nứt nẻ, lá bàng đỏ dưới chân. Miên nghe tim mình đập như hồi bốn giờ năm mươi tám chạy vào sân căn số bảy.
– Đưa đây. – Thầy Lộc nói.
Cô móc nửa cây thước trong túi ra. Thạch móc nửa của anh. Họ đặt hai nửa lên lòng bàn tay thầy, đầu một trăm chụm vào nhau.
Thầy Lộc cầm hai khúc gỗ chồng lên nhau bằng tay trái, tay mới lành sau cú gãy tháng Tám, đeo nẹp suốt hai tháng, giờ vẫn còn yếu. Tay phải ông cầm cái đinh đồng, đưa tới cái lỗ khoen. Tay phải run. Mũi đinh chạm vào mép lỗ, trượt ra. Chạm lần nữa. Trượt. Hai khúc gỗ trong tay trái ông bắt đầu lệch nhau, cái lỗ khoen này không còn nằm trên cái lỗ khoen kia.
Ông Hoành bước tới. Ông ngồi xuống đoạn chân tường, bên cạnh thầy Lộc, lần đầu tiên. Ông không nói gì. Ông đưa hai tay ra, giữ lấy hai khúc gỗ, ép chặt chúng vào nhau cho hai cái lỗ khoen nằm khít lên nhau. Y như đêm hai mươi tháng Chín năm ngoái, dưới ngọn đèn dầu, Thạch đã giữ cho Miên xỏ cây kim đinh ghim.
Tay ông Hoành không run.
Thầy Lộc nhìn hai bàn tay đó một lúc. Rồi ông đưa cái đinh tới lần thứ ba. Lần này nó lọt vào. Nhẹ nhàng. Không vướng. Không lỏng.
– Phải tán đầu đinh. – Thầy Lộc nói. – Không tán thì nó rớt.
Ông nhìn quanh. Không có búa. Ông cúi xuống, nhặt một mẩu gạch thẻ vỡ dưới chân đoạn tường, một mẩu chừng nửa bàn tay, cạnh đã mòn tròn, màu đỏ sẫm.
Ông Hoành nhìn mẩu gạch. Ông hiểu. Miên thấy ông hiểu, vì hai bàn tay đang giữ hai khúc thước của ông siết lại.
Thầy Lộc gõ. Một cái. Hai cái. Tay run, mẩu gạch không lần nào rơi trúng chính giữa đầu đinh, nhưng lần nào cũng trúng. Tiếng gõ nhỏ, khô, cách, cách, như tiếng gỗ chạm gỗ trên lầu căn số bảy tháng Chín. Ông gõ mười một cái. Miên đếm. Đầu đinh đồng loe ra, ôm chặt lấy khoen.
Ông Hoành buông tay.
Cây thước nằm trên đùi hai ông già. Mười khúc. Duỗi ra một đường dài hai mét, từ đùi người này sang đùi người kia. Ở đầu số không, chữ "L". Ở đầu hai trăm, chữ "H". Ở giữa, một cái đinh đồng mới tán, đầu còn sáng, nằm giữa hai cái khoen cũ đã xỉn.
Không ai nói gì rất lâu. Một chiếc ghe chở dừa chạy ngang trên kênh, máy nổ bành bạch, sóng vỗ vào bờ kè.
Thầy Lộc gập cây thước lại. Lần này nó gập được trọn, mười khúc chồng lên nhau, kêu lách cách. Ông đưa nó ra, không phải cho ông Hoành.
– Của hai đứa. – Ông nói với Miên và Thạch. – Không phải của tao, không phải của nó. Giữ chung. Đứa nào đo cũng phải có đứa kia giữ đầu bên kia.
Miên cầm cây thước. Thạch đặt tay lên tay cô, trên mặt gỗ.
Thầy Lộc cúi xuống cái túi vải ông đeo chéo từ sáng. Ông lấy ra một cái túi ni lông. Bên trong lúc lỉu những trái tròn, màu tím, nhỏ hơn bình thường.
– Măng cụt đầu mùa. – Ông nói, đặt cái túi lên đoạn chân tường, giữa mình với ông Hoành. – Chua. Bà bán ở chợ nói tháng sau mới ngọt. Tao không đợi được tới tháng sau.
Ông Hoành nhìn cái túi măng cụt. Ông nhìn rất lâu. Rồi ông cúi xuống, lấy một trái, bóp nhẹ hai ngón tay cái vào bụng trái, xoay. Vỏ không chịu mở. Ông bóp lần nữa. Vỏ nứt ra, tím ngắt, lem lên ngón tay ông. Bên trong là năm múi trắng như tỏi.
Ông đưa trái măng cụt đã tách vỏ cho thầy Lộc. Thầy Lộc cầm lấy, ăn một múi, nhăn mặt.
– Chua. – Ông nói.
– Anh nói rồi.
– Mày lựa giỏi hơn tao. Hồi đó toàn mày lựa.
Ông Hoành bật cười. Không phải tiếng cười làm ăn. Một tiếng cười già, khàn, ngắn, như của một người lâu lắm rồi không cười kiểu đó.
Họ ngồi trên đoạn chân tường kho Hiệp Thành, hai ông già, ăn măng cụt chua, vỏ tím chất thành đống giữa hai người. Miên và Thạch ngồi xuống bãi cỏ bên cạnh. Thầy Lộc chìa cái túi qua. Họ ăn. Chua thật.
– Thằng Thạch nộp đơn nghỉ hôm thứ Sáu. – Ông Hoành nói, không nhìn ai. – Chú ký rồi.
Miên quay sang Thạch.
– Anh nghỉ Đa Tầng?
– Anh định nói em tối nay.
– Lại để cho chắc hả?
– Lần này anh nói trước khi chắc. – Thạch nói. – Anh chưa biết anh đi đâu. Anh chỉ biết anh không ở lại.
Thầy Lộc nhổ một hạt măng cụt xuống bờ kè.
– Về Gạch Thẻ. – Ông nói. – Lầu một có chín cái bàn. Con Phượng nói thiếu một cái. Mày khiêng thêm một cái lên.
– Dạ. – Thạch nói. Rồi anh nghĩ một chút. – Bác. Xưởng có hai người chủ trì thì phải đổi tên.
– Đổi gì?
– Gạch Thẻ và… – Thạch nhìn Miên. – Đa Tầng thì không được. Thước Gấp?
– Nghe như tiệm bán đồ nghề. – Miên nói.
– Hai Nửa.
– Nghe như tiệm bánh mì.
– Gạch Thẻ Liên Danh.
– Nghe như hồ sơ đấu thầu.
– Gạch Thẻ. – Thầy Lộc nói. – Hết.
– Dạ, bác…
– Tên xưởng là Gạch Thẻ. – Thầy Lộc nói. – Mày muốn thêm chữ thì mày đi in danh thiếp riêng. Con Miên năm mười chín in danh thiếp lần cuối, mày in lần này. In một mặt thôi, giấy đắt.
Ông Hoành cười lần thứ hai. Ông lắc đầu, lau ngón tay tím ngắt vào khăn tay.
– Anh vẫn vậy. – Ông nói.
– Tao vẫn vậy. – Thầy Lộc nói. – Mày thì khác. Mày già.
– Em kém anh hai tuổi.
– Thì mày già trước tao hai tuổi. Tao ráng lắm mới không già.
Gió từ kênh thổi qua bãi xe, lật mấy chiếc lá bàng đỏ. Thầy Lộc đứng dậy, chống tay lên vai ông Hoành để đứng, rồi buông ra, như thể đó là chuyện ông vẫn làm mỗi ngày.
– Mai tao ở xưởng. – Ông nói, không quay lại. – Có ai tới uống trà thì mang măng cụt. Đừng mang thứ chua như vầy nữa.
Ông đi ra đầu bãi, chậm, nghỉ một nhịp mỗi bước. Ông Hoành đứng dậy, nhặt cái túi ni lông còn ba trái măng cụt, đi theo. Cách ba bước. Không phải mười.
Miên đứng trên bãi cỏ, cây thước gấp hai mét trong tay. Cô cúi xuống đoạn chân tường, nhặt mẩu gạch thẻ vỡ thầy Lộc đã dùng để tán đinh. Một mặt nó còn dính một vệt đồng sáng li ti.
Cô bỏ nó vào túi áo.
— Hết chương 34 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe