Chương 35: Mùa mưa thứ hai
– Đừng miết. Hất. Hất một cái cho nó dính, rồi mới miết.
Ba Sáu đứng sau lưng một thằng thợ trẻ hai mươi tuổi, tay không cầm bay, chỉ cầm một cây thước tầm, gõ nhẹ vào khuỷu tay thằng nhỏ mỗi lần nó làm sai. Hẻm hậu sau dãy Mười Bốn Căn, chín giờ sáng một ngày cuối tháng Năm. Cơn mưa đầu mùa đêm qua còn đọng thành vũng trên nền gạch, mùi đất ướt lẫn mùi vôi ủ. Mười hai cái thùng phuy nhựa xanh xếp hàng dọc bức tường sau căn mười hai, căn mười ba, mỗi cái dán một mẩu giấy ghi ngày ủ bằng bút lông, chữ ba Sáu to, xiêu.
Sáu ông thợ già của ba giờ có thêm tám đứa thợ trẻ. Bốn đứa của Đa Tầng ở lại sau khi Thạch nghỉ, xin theo ba Sáu học vôi. Bốn đứa khác là con cháu của mấy ông thợ già, từ Long An, từ Bến Tre lên, ở trọ trong một căn phòng thuê ở hẻm bên cạnh. Mỗi sáng chúng nó đứng thành hàng trước tường, mỗi đứa một tấm tôn trộn vữa, ba Sáu đi từ đầu hàng tới cuối hàng, gõ thước tầm.
– Chú ơi, sao phải hất? – Thằng nhỏ hỏi.
– Bây hỏi đúng chỗ. – Ba Sáu nói. Rồi ông quay sang Miên, đang đứng ở đầu hẻm với cuộn bản vẽ chi tiết mái căn mười. – Thấy chưa. Nó hỏi. Bây hồi đó toàn cãi.
Miên cười, đi tiếp.
Tháng Năm, mưa trở lại Sài Gòn mỗi chiều. Tháng Sáu, mái căn mười bốn lợp xong. Ngói âm dương cũ tháo từ những căn khác, viên nào còn tốt thì giữ, viên nào nứt thì thay bằng ngói đặt nung ở một lò gạch Vĩnh Long, cùng màu, cùng cỡ. Mặt sau mỗi viên mới có đóng dấu năm hai nghìn hai mươi sáu cho người sau biết. Tháng Bảy, ba cái bể ngầm dưới sân căn số ba, số bảy, số mười hai được mở lại, nạo vét. Ba cái nối với nhau bằng một cái cống gạch chạy dọc hẻm hậu, đúng như ông Diệp vẽ bằng nước trà lên mặt bàn tháng Mười Một năm ngoái.
Lầu một xưởng Gạch Thẻ có mười cái bàn.
Thạch tự khiêng cái bàn thứ mười lên, một cái bàn gỗ cũ anh mua lại ở chợ đồ cũ, đặt sát cửa sổ, đối diện bàn Miên. Chị Phượng đo khoảng cách giữa hai cái bàn bằng thước dây, ba mét lẻ sáu. Rồi chị lấy một mẩu băng keo xanh dương còn sót lại trong ngăn kéo, dán một vạch nhỏ xíu giữa sàn, dài đúng một gang tay. Không ai gỡ nó ra.
Mỗi sáng, bảy giờ rưỡi, ông Hoành tới xưởng.
Ông không gõ cửa. Ông đẩy cửa bước vào, đặt một túi măng cụt lên bàn thầy Lộc, kéo cái ghế đẩu học trò lại ngồi. Thầy Lộc rót trà. Hai ông uống, không nói gì nhiều. Có hôm ông Hoành cầm cây bút chì đỏ của thầy lên coi rồi chê gọt xấu, thầy giật lại. Có hôm thầy chấm một bản vẽ của Tùng rồi đưa qua cho ông Hoành coi, ông Hoành chấm thêm một chấm, thầy gạch cái chấm của ông đi. Tùng đứng nhìn hai ông già tranh nhau chấm bản vẽ của mình, mặt như người đang coi đá banh mà không biết đội nào là đội mình.
Chín giờ, hai ông gọi một chiếc xe ôm, đi Chợ Lớn. Anh Tâm xe ôm căn mười một chở. Anh không lấy tiền, nói "chở hai bác như chở đồ cổ, phải chạy chậm". Tới căn số ba, hai ông ngồi xuống trước bàn cờ của ông Diệp.
Ông Diệp đánh với thầy Lộc ván đầu, thắng trong mười chín nước. Đánh với ông Hoành ván hai, thắng trong hai mươi ba nước. Rồi ông bắt hai người đánh với nhau. Ván đó kéo dài một tiếng rưỡi. Hai ông già cúi đầu trên bàn cờ, không nói một chữ. Ông Diệp ngồi bên cạnh, rót trà, thỉnh thoảng nói một câu tiếng Quảng Đông không ai hiểu.
Ván đó hòa.
– Hó. – Ông Diệp vỗ đùi. – Hòa. Bao nhiêu năm ông đánh cờ, chưa thấy ván nào hòa đẹp vậy. Hai người cùng giữ một bàn cờ. Không ai chịu ăn quân cuối của người kia.
Tháng Bảy, Tùng cầu hôn Ly.
Nó cầu hôn ở quán cô Chín, chiều thứ Bảy, sau giờ khách trưa. Nó đã chuẩn bị ba tuần, viết một bài phát biểu dài hai trang, đọc thử cho Miên nghe ở xưởng bốn lần. Lần nào cũng như đọc một trạng thái trên mạng, có ngoặc kép, có chấm than, có câu "và em biết không". Lần thứ tư Miên bảo nó bỏ hết, chỉ nói một câu.
Chiều hôm đó, cả hai đội cũ ngồi trong quán. Cô Chín đặt lên cái bàn sát cột một tô hủ tiếu, hai đôi đũa, cái ổ cắm sáu lỗ nằm giữa với vạch băng keo đã bong sạch từ lâu. Tùng ngồi xuống đối diện Ly. Nó gắp một trái trứng cút trong tô, đưa lên miệng Ly.
– Em ăn trái này thì làm vợ anh.
Ly nhìn trái trứng cút. Nhìn Tùng. Nhìn cả quán đang nín thở.
– Anh đọc cái này ở đâu?
– Anh tự nghĩ. Chị Miên bảo anh bỏ hai trang.
Ly há miệng ăn trái trứng cút. Cả quán vỗ tay. Cô Chín rút cuốn sổ ghi nợ trong túi tạp dề ra, lật trang mới, ghi một dòng, rồi xé trang đó ra đưa cho Tùng. "Một tô hủ tiếu đặc biệt. Miễn phí. Cưới xong mới tính."
Thạch ngồi ở góc quán, cạnh Miên. Anh nghiêng đầu nói nhỏ:
– Hai ông sui.
– Hai bà sui. – Miên nói. – Anh tự nói anh không làm bà sui được.
– Giờ làm được rồi. – Anh nói. – Anh học.
Tháng Tám, Khiêm tới lầu căn số bảy với một tập hồ sơ.
Anh ta không mang yến, không mang hộp gỗ thắt nơ. Anh ta mang một bản kế hoạch kinh doanh hai mươi trang, in đen trắng, đặt lên cái bàn dài trước mặt bà Thoa, Miên, Thạch và ông Quan. Ba cái lầu đang để trống trong dãy. Làm phòng lưu trú. Mười hai phòng, mỗi phòng đặt theo tên một vị thuốc bắc trong tủ ông Diệp. Khách ở thì ăn sáng ở quán cô Chín, may đồ ở tiệm cô Út, uống trà với ông Diệp. Anh ta góp vốn sửa ba căn lầu, chia doanh thu với bà Thoa, phần của anh ta để trả dần món nợ ba anh ta để lại.
Miên đọc tới trang ba thì ngẩng lên.
– Cái này là ý của tôi. – Cô nói. – Bữa cơm tháng Tám năm ngoái. Tiền chỉ đủ sửa bảy căn. Tôi nói làm lưu trú trên lầu.
– Tôi biết. – Khiêm nói. – Bà nội tôi kể. Tôi lấy ý của chị. Chị ghi tên tác giả vô cho tôi. Đủ họ tên, không viết tắt.
Bà Thoa gõ cây gậy xuống sàn một cái. Thạch quay mặt đi, vai rung.
Cuối tháng Tám, Miên nhận được một lá thư điện tử.
Cô đã nộp hồ sơ từ tháng Mười năm ngoái, trong một đêm mất ngủ giữa hai tuần không nói chuyện với Thạch, rồi quên mất. Một chương trình thạc sĩ một năm về bảo tồn kiến trúc ở một trường đại học bên châu Âu, học bổng toàn phần. Kết quả: trúng tuyển. Khai giảng giữa tháng Chín.
Cô đọc lá thư ở bàn mình, lầu một xưởng Gạch Thẻ, lúc chín giờ tối. Thạch ngồi ở bàn đối diện, cách ba mét lẻ sáu và một vạch băng keo dài một gang tay. Cô xoay màn hình về phía anh.
Anh đọc. Anh đọc hai lần.
– Em đi đi. – Anh nói.
– Khánh thành tháng Mười Hai.
– Anh giữ công trình. – Anh nói. – Ba giữ đội thợ. Chị Phượng giữ kết cấu. Bác Lộc với chú Hoành giữ anh. Em đi một năm, về là căn mười bốn đã có người ở.
– Em không muốn về thấy căn mười bốn có người ở. – Miên nói. – Em muốn đứng đó lúc người ta dọn vô.
– Học bổng này không có lần thứ hai.
– Anh không biết.
– Anh biết. – Thạch nói. – Anh coi trang web của trường rồi. Mỗi năm họ nhận mười hai người. Từ khắp thế giới.
Cô nhìn anh. Anh đã coi trang web. Trong lúc cô đọc lá thư lần thứ hai, anh đã mở trang web của trường ra coi, đã đọc tiêu chí, đã đếm số người.
– Anh muốn em đi. – Cô nói.
– Anh không muốn em đi. – Anh nói. – Anh muốn em được đi. Hai cái đó khác nhau.
Họ cãi nhau ba ngày. Lần đầu tiên từ tháng Mười Hai năm ngoái, họ cãi nhau thật. Không phải về vữa vôi hay độ võng hay số chín viết giống số bốn. Về chuyện ai được giữ ai ở lại.
Ngày thứ tư, Miên viết thư cho trường. Cô hỏi có thể hoãn sang khóa tháng Hai năm sau được không. Cô viết rằng cô đang chủ trì trùng tu một dãy nhà phố năm một nghìn chín trăm hai mươi tám, mười bốn căn, có người ở. Cô muốn đứng ở cửa căn cuối cùng ngày người ta dọn vô. Cô gửi kèm ảnh cây đà có khắc chữ "LH 95" và cái đồng hồ so đặt bên dưới.
Một tuần sau, trường trả lời. Hội đồng tuyển sinh đồng ý cho hoãn một lần, sang khóa tháng Hai. Ở cuối thư, ông giáo sư trưởng chương trình viết thêm một dòng tay, chụp lại gửi kèm: "Tôi muốn nghe về cây đà đó."
Cô đưa lá thư cho Thạch đọc. Anh đọc, rồi ngẩng lên.
– Tháng Hai em đi. – Anh nói.
– Tháng Hai em đi.
– Anh giữ đầu bên này.
– Anh giữ cho thẳng. Đừng làm tròn.
Thứ Sáu hai mươi lăm tháng Chín, rằm tháng Tám năm thứ hai.
Sân căn số bảy lại thành xưởng lồng đèn. Hai cái chiếu, một bó nan tre, ba xấp giấy kiếng. Bé Na mười tuổi, cao hơn năm ngoái một cái đầu, không còn đứng nép sau lưng cô Út Nhị nữa. Con bé ngồi giữa chiếu, dạy cho năm đứa nhỏ khác làm cá chép, giọng y như một bà giáo.
Thạch ngồi cạnh con bé, làm một con cá chép. Nan tre không gãy cây nào. Vây cá cong đều, mang cá có vẩy giấy kiếng cắt từng mảnh nhỏ dán chồng lên nhau. Bé Na nhìn con cá chép của anh rất lâu.
– Chú hết làm bài kiểm tra rồi. – Con bé tuyên bố.
Bảy giờ tối trăng lên, to, tròn, vàng như lòng đỏ trứng muối, từ sau dãy mái ngói phía chợ Bình Tây. Mái ngói mười bốn căn giờ đều một màu, ngói cũ ngói mới nằm cạnh nhau không ai phân biệt được, trừ những người biết lật ngói lên coi mặt sau có đóng dấu năm.
Đoàn rước đèn đi một vòng dọc mười bốn căn. Ông Diệp gõ trống. Thầy Lộc và ông Hoành đi cuối đoàn, mỗi người cầm một cái lồng đèn ngôi sao bé Na làm cho, đi chậm, cách nhau một bước. Ba Sáu đi bên cạnh má Liên, má vịn tay ông qua những chỗ gạch lồi lõm.
Tới trước căn số mười bốn, đoàn dừng lại.
Cửa chính căn mười bốn, gỗ dầu, sơn lại màu gụ, lớp trong cùng mà Miên đã thấy dưới ba lớp sơn ngày đầu tiên. Trên đầu cửa, đèn đã sáng. Cửa sổ lầu, lá sách xanh mới sơn, đã mở. Bé Na giơ con cá chép lên, không phải để cho căn nhà coi, mà để soi vào cái bảng gỗ nhỏ treo cạnh cửa, mới đóng tuần trước: "Xưởng nghề. Mở cửa tháng Mười Hai."
Ba Sáu đứng sát bên Thạch. Ông thò tay vào túi áo, móc ra một cái gì đó nhỏ, ấn vào tay anh. Thạch cúi xuống nhìn. Cái chìa đồng đầu tròn có lỗ hình đồng tiền, cái chìa ông đưa anh giữ giùm hồi tháng Mười Một năm ngoái, rồi lấy lại hồi tháng Sáu để giũa tiếp. Giờ răng chìa đã sáng loáng đều từ đầu tới cuối, không còn chỗ nào mòn.
– Xong rồi. – Ba Sáu nói nhỏ. – Đợi bữa khánh thành, tui nói con mở cửa nào.
— Hết chương 35 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe