Chương 26: Hợp đồng ba bên
– Điều mười bốn, khoản ba. "Vữa vôi phải được ủ tối thiểu hai mươi mốt ngày." Bên Đa Tầng đề nghị sửa thành "tối thiểu mười bốn ngày".
– Bên Gạch Thẻ không đồng ý.
– Lý do?
– Lý do là ba của chủ trì nói ba tuần. – Chị Phượng nói, đẩy kính lên. – Và ba của chủ trì đúng hơn tiến độ của anh.
Anh Vĩnh nhìn chị qua cái bàn dài trên lầu căn số bảy. Rồi anh gạch chữ "mười bốn" trên bản in, viết lại "hai mươi mốt", ký tắt bên cạnh.
– Ghi vô biên bản là bên Đa Tầng nhượng bộ vì lý do gia đình. – Anh nói.
Tùng ở cuối bàn bật cười thành tiếng, rồi bị Ly véo dưới gầm bàn. Từ hôm vòng ba, hai đứa không còn ngồi cách nhau ba cái bàn nữa. Hai đứa ngồi sát nhau, chung một cái máy tính, và mỗi lần Tùng cười thì Ly véo, và mỗi lần Ly véo thì Tùng cười to hơn.
Đó là ngày thứ tư của cái mà bà Thoa gọi là "thương thảo", và Tùng gọi là "đám giỗ không có cỗ". Bản hợp đồng ba bên dày bốn mươi hai trang. Bà Thoa thuê một luật sư già, ông Quan, người từng làm giấy tờ cho bà từ thời ông nhà còn sống, ngồi ở đầu bàn, đọc từng điều khoản bằng giọng của người đọc kinh. Hai đội ngồi hai bên. Vạch băng keo xanh dưới sàn vẫn còn, đã bong gần hết, chỉ còn mấy mẩu nằm như những đoạn đường ray bị bỏ hoang.
Cái họp gia đình của Khiêm diễn ra hôm thứ Hai tám. Bà Thoa không đi. Bà cho ông Quan đi thay, mang theo một bản sao bản đề xuất liên danh có đủ hai chữ ký và một bản sao biên bản kiểm phiếu. Ông Quan mang thêm một bức thư tay của giáo sư Hựu gửi "gia đình họ Châu". Trong thư ông viết đúng ba câu, câu cuối là: "Một cái nhà đứng chín mươi bảy năm thì nó biết đứng, mình chỉ cần đừng làm nó té." Ông Quan về kể, mấy người cháu ở Mỹ, ở Úc gọi điện về nghe xong thì im. Người ta không bán một khu đất khi đã có người ký tên chịu trách nhiệm sửa nó. Cuộc họp tan, không biểu quyết gì.
Nhưng Khiêm không rút đơn gửi phường. Hội đồng xét nhà nguy hiểm vẫn sẽ họp. Ông Quan hỏi thăm được lịch: không phải tháng này, cũng không phải sau Tết ngay. Có thể tháng Tư.
Còn hợp đồng thì kẹt ở trang bốn mươi hai.
Trang bốn mươi hai có bốn ô chữ ký. Bên A: Lư Ngọc Thoa. Bên B, đại diện liên danh: Hà Thục Miên, Kiều Duy Thạch. Và bên dưới cùng, hai ô "Cố vấn chịu trách nhiệm chung". Ông Hoành đã ký ô bên phải từ hôm thứ Ba, ký bằng cây bút máy của ông, chữ ký nghiêng, gọn, như ký một hợp đồng cao ốc. Ô bên trái để trống.
Thầy Lộc không ký.
Miên đã hỏi ba lần. Lần đầu thầy gọt bút chì. Lần thứ hai thầy nói "mày ký đủ rồi". Lần thứ ba thầy không nói gì, chỉ cầm bản hợp đồng lên, lật tới trang bốn mươi hai, nhìn chữ ký của ông Hoành rất lâu, rồi đặt xuống, úp mặt.
– Không có ổng ký thì bà Thoa không ký. – Ông Quan nói, gập kính. – Bà nói vậy. Bà nói bà đợi hai mươi tám năm rồi, đợi thêm mấy tuần không sao.
Tối thứ Tư hai mươi bốn, Miên đứng ở đầu đường Tạ Nguyên Lương lúc bảy giờ, tay đút túi áo khoác, nhìn dòng người đổ về phía nhà thờ.
Cô không định ở lại. Cô tới lấy mấy bản vẽ chi tiết căn mười bốn ở lầu số bảy, định lấy rồi về. Nhưng con hẻm ngang qua nhà thờ đã giăng đèn từ chiều, đèn dây vàng, đèn ngôi sao đỏ, những hang đá dựng bằng giấy bạc trước cửa từng nhà. Người ta đi thành dòng như nước, kéo cô theo.
Thạch đứng ở góc đường, cạnh một xe bán bắp xào. Anh không giả vờ là tình cờ.
– Bà Thoa nói em tới lấy bản vẽ. – Anh nói. – Anh đợi.
– Anh đợi bao lâu?
– Từ sáu giờ.
Cô nhìn anh. Áo khoác mỏng màu xám, tay cầm hai ly bắp xào bơ, một ly có hành phi, một ly không.
– Ly không hành của em. – Anh nói.
– Anh biết từ hồi nào?
– Từ bữa cơm bà Thoa tháng Tám. Cô Chín nói.
Cô cầm ly bắp. Họ đi bộ theo dòng người, không ai rủ ai. Trẻ con đội nón ông già Noel chạy ngang, thổi kèn giấy. Một ông bán bong bóng dắt cả trăm quả bóng bay hình ngôi sao, bị đám đông đẩy dạt vào sát hai người. Thạch kéo cô sang một bên. Tay anh để trên khuỷu tay cô một giây, rồi buông.
Họ dừng lại trước một cái hang đá lớn nhất xóm, dựng trước một căn nhà phố hai tầng mặt tiền vôi xanh. Ai đó đã dựng nguyên một cái chuồng bò bằng tre, mái lợp lá dừa nước, bên trong có bò, có lừa, có ba ông vua bằng thạch cao sơn kim nhũ. Đèn chớp tắt theo nhạc.
– Mái lợp sai. – Thạch nói. – Lá dừa nước phải lợp từ dưới lên. Họ lợp từ trên xuống, mưa là dột.
– Ở Bê-lem không có mưa.
– Ở Chợ Lớn có.
Cô bật cười. Một tiếng ngắn, khàn, bất ngờ, như nút chai. Cô quay mặt đi, nhưng anh đã nghe.
Họ đứng đó, trước cái chuồng bò lợp ngược, giữa tiếng nhạc và tiếng trẻ con, ăn bắp xào bằng muỗng nhựa.
– Thầy em vẫn chưa ký. – Cô nói.
– Anh biết.
– Thầy không nói vì sao.
– Bác không ký chung với chú Hoành. – Thạch nói. – Hai mươi tám năm trước, bác ký một lần. Chắc bác không muốn ký lần thứ hai.
Miên quay sang nhìn anh. Anh đang nhìn cái hang đá, không nhìn cô. Đó là một câu đoán. Anh đã hứa không đoán nữa. Nhưng anh nói nó như người ta nói một câu thật về cái mái lá lợp sai, không đưa cho cô, không ép cô cầm.
Cô không bác.
– Mấy tuần nay anh ngủ được không? – Cô hỏi.
– Không. – Anh nói. – Còn em?
– Tôi… – Cô dừng lại. Chữ đó nằm trên đầu lưỡi cô, như viên kẹo đã ngậm quá lâu, hết ngọt. – Em không ngủ được.
Anh không quay sang. Anh không nói gì về chữ đó. Anh chỉ ăn nốt muỗng bắp xào cuối cùng, rồi bóp méo cái ly nhựa trong tay, rồi vuốt lại cho phẳng. Đó là cái thói quen kỳ cục cô đã ghi nhận từ đêm ở bệnh viện mà chưa bao giờ bình luận.
– Anh bỏ cái tật đó đi. – Cô nói.
– Tật gì?
– Bóp méo rồi vuốt lại. Nó không phẳng lại được đâu.
Anh nhìn cái ly nhựa nhăn nhúm trong tay mình.
– Anh biết. – Anh nói. – Anh vuốt để nhớ là nó không phẳng lại được.
Sáng thứ Bảy hai mươi bảy, ba cô đứng ở đầu cầu thang lúc bảy giờ, mặc áo sơ mi trắng, cái áo ông chỉ mặc đi đám cưới.
– Bây chở ba tới xưởng thầy bây.
Miên đứng sững với cái bàn chải đánh răng trong miệng.
– Ba tới làm gì?
– Nói chuyện.
Cô chở ba. Ba ngồi sau, hai tay ôm eo cô, như sáng hôm đầu tháng Mười Một qua cầu. Ông không nói gì suốt đường đi. Tới đầu hẻm Ba Cây Me, ông xuống xe, đứng nhìn cái biển gỗ "Xưởng Gạch Thẻ" treo lệch trên cột điện.
– Bây ở ngoài này. – Ông nói.
– Ba…
– Ở ngoài. – Ông nói, rồi đi cà nhắc vào hẻm.
Cô đứng ngoài đầu hẻm một tiếng mười lăm phút. Bà bán xôi cho cô một gói xôi bắp, không lấy tiền, nói "đứng hoài tội nghiệp". Cô ăn hết gói xôi, rồi đứng tiếp. Qua cửa sổ tầng trệt xưởng, cô thấy hai cái bóng ngồi đối diện nhau qua cái bàn của thầy. Một bóng ngồi ghế mây. Một bóng ngồi ghế đẩu học trò. Không ai đứng dậy. Có lúc cả hai bóng cùng cúi xuống, như đang nhìn một thứ gì đó trên mặt bàn.
Chị Phượng ra mở cửa cho ba về. Mắt chị đỏ. Chị không nói gì với Miên, chỉ lắc đầu, ý là chị cũng không biết, chị chỉ ngồi trên lầu một nghe tiếng hai ông già nói chuyện mà không nghe ra chữ nào.
Ba cô ra tới đầu hẻm, leo lên xe.
– Về.
Chiều hôm đó thầy Lộc gọi cho bà Thoa. Miên biết vì bà Thoa gọi cho cô ngay sau đó, giọng tỉnh bơ như báo giá gạo:
– Thằng Lộc chịu ký. Nó đặt một điều kiện. Ba bây phải cầm đội thợ vôi. Từ mẻ vôi đầu tiên tới mẻ cuối cùng. Nó nói không có ba bây thì nó không ký tên lên bất cứ bức tường nào của qua.
Thứ Ba ba mươi tháng Mười Hai, mười giờ sáng, bản hợp đồng ba bên nằm giữa cái bàn dài trên lầu căn số bảy, mở ở trang bốn mươi hai.
Bà Thoa ngồi đầu bàn. Bên trái bà là ông Hoành. Bên phải là thầy Lộc. Hai ông ngồi đối diện nhau qua chiều ngang cái bàn, chừng một mét, gần nhau hơn bất kỳ lúc nào trong hai mươi tám năm. Không ai nhìn ai. Ba Miên ngồi cuối bàn, áo sơ mi trắng đi đám cưới, hai tay đặt trên đùi, như một người thợ ngồi chờ giao việc. Ông Hoành đã nhìn ba cô một lần, lúc mới vào, gật đầu. Ba cô gật lại. Chỉ vậy.
Thầy Lộc cầm cây bút kim bằng tay phải. Tay run. Nét chữ ông kéo ra chậm, khúc khuỷu, như một đường nứt răng cưa. Nghiêm Bá Lộc. Ngay bên cạnh chữ ký nghiêng, gọn của ông Hoành. Hai chữ ký nằm sát nhau trong cùng một khung, như hai đầu thước chụm lại ở vạch một trăm.
Bà Thoa ký sau cùng. Bà ký chậm, rõ từng nét. Rồi bà đặt bút xuống, nhìn hai ông già ngồi hai bên mình.
– Bây biết qua làm cái cuộc thi này để làm gì không? – Bà hỏi, không đợi ai trả lời. – Qua muốn giữ cái nhà. Cái đó thật. Mà qua tám mươi hai tuổi rồi. Qua muốn thấy hai thằng đó ngồi chung một cái bàn trước khi qua chết.
Không ai nói gì. Thầy Lộc nhìn xuống chữ ký của mình. Ông Hoành nhìn ra cửa sổ lá sách.
– Giờ ngồi rồi. – Bà Thoa nói, chống gậy đứng dậy. – Qua đi nấu cơm. Ai muốn về thì về. Ai muốn ở lại ăn thì ở.
– Bà. – Miên nói. – Hôm vòng ba, bà bỏ phiếu căn số bảy cho Đa Tầng.
– Qua bỏ cho thằng nhỏ. – Bà nói, không quay lại. – Nó dám ký trước một trang giấy mà không biết con có ký theo không. Bây giỏi. Mà nó gan. Qua thưởng cái gan.
Bà đi xuống cầu thang. Con Thầu đi theo. Không ông nào đứng dậy về.
Nhưng cũng không ông nào nói câu nào với người kia. Họ ngồi đó, một mét cách nhau, cho tới khi bà Thoa gọi vọng lên là cơm đã dọn, và họ đi xuống cầu thang, ông trước ông sau, cách nhau đúng ba bậc.
Chiều hôm đó Miên chở ba về. Tới cầu, gió sông thổi lồng lộng, cô nghiêng đầu ra sau.
– Ba.
– Ừ.
– Hôm thứ Bảy. Ba với thầy nói gì?
Ba cô im một lúc. Hai tay ông vẫn ôm eo cô, siết nhẹ.
– Chuyện người lớn. – Ông nói.
Lần này, giọng ông không giống tiếng một cánh cửa lá sách khép lại. Nó giống tiếng một người đang tìm chìa, biết là chìa nằm đâu đó trong túi rồi, chỉ là chưa móc ra.
— Hết chương 26 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe