Chương 6: Ông Táo và ngày ba mươi mốt
Mười hai giờ mười lăm, thằng Đạt về, dắt xe đi bộ từ đầu hẻm cho khỏi nổ máy.
– Sinh nhật thằng bạn. – Nó nói, trước khi ai kịp hỏi. – Điện thoại hết pin. Con xin lỗi má.
Má cô ôm nó một cái, rồi đánh vô lưng nó ba cái, rồi đi vô buồng, đóng cửa. Tiệp đứng lại ở gian trước. Thằng em cô đi ngang, và cô ngửi thấy trên áo nó một mùi rất quen. Không phải mùi bia, mùi khói nướng của mấy bữa sinh nhật sinh viên. Mùi dầu máy. Mùi sắt mài.
– Sinh nhật ở đâu? – Cô hỏi.
– Nhà thằng bạn.
– Thằng bạn nào?
– Chị không biết đâu.
Nó leo lên cầu thang, chui vô cái góc ngủ của nó trên gác, kéo rèm.
Sáng hôm sau, Tiệp qua xưởng số 52 lúc bảy giờ. Xán đang ngồi trên bậc cửa ăn hủ tiếu. Cái tô đó cô biết chắc là của xe má cô, vì má cô là người duy nhất trong hẻm bỏ thêm củ cải muối vô hủ tiếu Nam Vang.
– Tối qua thằng Đạt ở đâu? – Cô hỏi, không chào.
Anh ngẩng lên, đũa còn kẹp sợi hủ tiếu.
– Sao cô hỏi tui?
– Tại áo nó dính mùi xưởng anh.
Anh nhai, nuốt, rồi để đũa xuống.
– Đạt mười chín tuổi. – Anh nói. – Cô hỏi nó.
– Tui hỏi nó rồi. Nó nói dối.
– Vậy cô hỏi lại.
– Còn anh, anh không nói dối mà anh cũng không nói.
Anh nhìn cô một lúc. Cái nhìn đó không giống mấy lần cãi nhau trước. Nó giống cái nhìn của người đang cầm một món đồ không phải của mình, không biết đưa cho ai.
– Có một chuyện không phải tui nói được. – Anh nói. – Tui hứa với người ta rồi.
– Người ta là ai?
– Nếu tui nói thì tui đâu còn giữ lời hứa.
Tiệp quay về, đạp mạnh cái chân chống xe tới mức nó kêu một tiếng "cạch" vang cả hẻm.
Tuần cuối tháng Một, cả hai đoàn chạy show không kịp thở. Tháng Chạp là mùa tất niên. Công ty nào cũng muốn múa lân ở tiệc tất niên, tiệm nào cũng muốn múa lân trước khi đóng cửa nghỉ Tết. Thuận Phong chạy bốn buổi một ngày, chú Sáu Mỡ ra về mà hai cái đầu gối kêu lụp cụp như bản lề cửa. Bạch Hạc chạy ba buổi, nhưng buổi nào cũng có cọc, xe tải nhỏ chở cọc chạy ra chạy vô hẻm, lần nào cũng quẹt cái chậu bông giấy trước cửa nhà Tiệp.
Hai đoàn vẫn tập chung. Ngày hai mươi, ngày hai mươi ba, ngày hai mươi sáu, ngày hai mươi tám. Mỗi buổi hai tiếng, đúng như điều một trên tờ khăn giấy. Tiệp đánh trống được tám phần, đôi khi chín. Cô vừa đánh vừa la con lân đỏ bước sai, vì người đội đầu lân đỏ trong những buổi tập này là anh Ròm, còn cô thì phải ngồi sau trống.
Cô ghét chuyện đó. Cô đội đầu lân từ năm mười bốn tuổi. Ngồi sau trống nhìn người khác đội con lân cô làm, cô thấy như người ta đang mặc áo của mình đi chơi.
– Rằm Giêng cô vẫn ngồi trống hả? – Xán hỏi, buổi ngày hai mươi tám.
– Không thì ai?
– Vậy ai đội đầu lân đỏ?
– Anh Ròm.
– Anh Ròm đội đầu lân giống người ta khiêng tủ lạnh.
– Điều ba trên khăn giấy. Không ai chê đầu lân của ai.
– Tui không chê đầu lân. Tui chê người đội.
Cô liếc anh. Anh nói đúng. Cô biết anh nói đúng. Đó mới là chỗ khó chịu.
Đêm Thứ Sáu, ngày hai mươi chín, cả hẻm Cây Sung cúp điện lúc tám giờ tối.
Không báo trước. Đèn tắt một cái phụp. Quạt trần quay thêm mấy vòng chậm dần rồi đứng. Cả hẻm vang lên một tiếng "ồ" chung, của mấy chục nhà cùng lúc. Rồi tiếng ai đó đi tìm đèn sạc, tiếng con nít khóc, tiếng má cô ở sau bếp la lên vì nồi nước lèo đang nấu dở.
Tiệp đứng trên gác lửng, cây cọ trên tay còn dính sơn vàng. Trước mặt cô, trên cái giá gỗ, là con lân vàng của khách Biên Hòa, đã bồi xong, đã sơn nền, đã gắn lông. Chỉ còn đôi mắt.
Đôi mắt phượng là thứ cô vẽ sau cùng, và ông Tư Đờn hẹn lấy hàng lúc mười giờ sáng mai.
Mắt lân không vẽ dưới đèn sạc được. Ánh đèn sạc xanh lè, nhìn màu vàng ra màu cứt gà, nhìn màu đỏ ra màu nâu. Vẽ dưới đèn sạc, sáng ra coi lại là thấy con lân lé.
Cô ngồi xuống sàn gác, trong bóng tối, nghe nồi nước lèo của má sôi lụp bụp trên bếp ga dưới nhà. Cô tính. Thức tới khi có điện. Nếu có điện lúc mười giờ thì vẽ tới hai giờ sáng. Nếu có điện lúc mười hai giờ…
Bên kia hẻm có tiếng máy nổ.
Không phải tiếng xe. Tiếng máy nổ đều, trầm, rền rền, như con trâu thở. Rồi một vệt sáng trắng lóe lên, chiếu thẳng vô cửa sổ gác lửng nhà cô.
Tiệp đứng dậy, ra cửa sổ. Ở dưới hẻm, Xán đang đẩy một cái máy phát điện nhỏ đặt trên xe đẩy hàng, đẩy qua ba mét hẻm, tới ngay trước cửa nhà cô. Trên vai anh vác một cây đèn pha công trình, loại đèn cắm trên chân ba càng, dây điện cuộn vòng vòng trên cổ như con trăn.
– Cô vẽ mắt hả? – Anh nói vọng lên.
– Sao anh biết?
– Tối qua tui thấy cô vẽ mắt cái đầu khác. Còn con vàng thì chưa có mắt. Mai là hai mươi ba tháng Chạp. Ông Tư Đờn tới lấy hàng.
Cô đứng nhìn xuống, không nói được câu nào. Hai năm nay, cô tưởng người ở xưởng số 52 chỉ biết nhìn thép.
– Cô thả dây xuống. – Anh nói. – Tui cột đèn, cô kéo lên.
Mười lăm phút sau, cây đèn pha công trình đứng sừng sững trên gác lửng nhà cô, chiếu một vùng sáng trắng tinh lên con lân vàng. Ánh đèn trắng như ánh trưa. Dưới hẻm, cái máy phát rền đều. Bà Mười Huê đi ngang, ngó lên, la:
– Thằng kia! Máy nổ ồn quá!
– Dạ một tiếng thôi bà. – Xán nói.
– Ờ, một tiếng. – Bà Mười nói, rồi đứng lại coi luôn.
Tiệp vẽ đôi mắt phượng trong một tiếng mười phút. Cô vẽ chậm hơn mọi khi, vì cô biết dưới hẻm có người đang ngồi canh cái máy phát, và cái máy phát đó đang ngốn xăng. Lúc cô vẽ xong nét viền vàng cuối cùng ở đuôi mắt phải, đèn trong hẻm sáng lại. Cả hẻm "ồ" thêm lần nữa.
Cô xuống. Xán đang tắt máy phát.
– Tiền xăng bao nhiêu? – Cô hỏi.
– Không tính.
– Không được. Tui không nợ anh.
– Cô nợ tui rồi. – Anh nói, cuộn dây điện lại. – Không phải tiền xăng.
– Vậy nợ cái gì?
– Tui ghi sổ.
– Anh có sổ hả?
– Có. – Anh nói, mặt tỉnh như không. – Trong đầu.
Anh đẩy cái máy phát về. Tiệp đứng trước cửa, không biết nên cười hay nên giận.
Sáng Thứ Bảy, hai mươi ba tháng Chạp. Ông Táo về trời.
Má cô cúng ông Táo lúc bảy giờ, ba con cá chép đỏ trong cái thau nhôm nhỏ, một bộ mũ áo giấy, một dĩa kẹo mè xửng. Ông nội thắp nhang, khấn một hồi. Cúng xong, Tiệp đem ba con cá ra kênh gần chợ thả.
Mười giờ, ông Tư Đờn tới. Ông coi con lân vàng một vòng, gật gù, nhai trầu.
– Đẹp. – Ông nói. – Khách khó mấy cũng phải chịu.
Ông đưa nốt bảy triệu. Rồi ông cột con lân lên xe ba gác máy, phủ tấm bạt, và chạy ra đầu hẻm.
Tiệp đã tính từ tối qua. Cô đội nón bảo hiểm, đeo khẩu trang, dắt xe ra đầu hẻm, nổ máy, và chạy theo.
Ba năm. Bảy con lân. Giờ là con thứ tám. Cô muốn thấy mặt người khách đó một lần. Người chịu trả mười bốn triệu cho một con lân mà không cần thấy mặt người làm. Người có một cái gương "từ lâu lắm rồi".
Xe ba gác của ông Tư Đờn chạy chậm, dễ theo. Qua hai ngã tư, quẹo vô đường chợ. Tiệp chạy cách ba chiếc xe máy. Tới khúc chợ đông, xe ba gác quẹo vô một con đường nhỏ hai bên là sạp hàng khô, mùi tôm khô, mực khô, nấm mèo xộc lên. Cô quẹo theo.
Rồi một chiếc xe đẩy chè ba màu từ trong hẻm nhỏ đẩy ra, chắn ngang đường.
Cô thắng gấp. Bà bán chè la. Cô xin lỗi. Bà bán chè la tiếp, về chuyện thanh niên bây giờ chạy xe như ma đuổi, về chuyện bà đẩy xe chè ba chục năm chưa ai thắng gấp trước mặt bà như vậy. Cô xin lỗi thêm hai lần. Bà bán chè đẩy xe đi, chậm rãi như đi lễ.
Xe ba gác của ông Tư Đờn đã mất hút.
Tiệp chạy lòng vòng khu chợ thêm hai mươi phút. Không thấy. Cô gọi điện cho ông Tư Đờn. Ông bắt máy, giọng vô tư:
– Ờ con Tiệp. Chú đang giao hàng. Có gì không con?
– Dạ… không. Con hỏi chú giao tới chưa.
– Sắp tới rồi. Khách chờ.
– Khách ở đâu chú?
Ông Tư Đờn cười khặc khặc trong điện thoại.
– Con gái hỏi chi kỹ vậy. Khách ở chỗ khách.
Ông cúp máy.
Tiệp về tới hẻm lúc hơn mười một giờ, mặt nóng, mồ hôi ướt lưng áo. Cô dắt xe vô nhà, leo lên gác lửng nằm vật ra sàn, ngó cái giá gỗ trống trơn chỗ con lân vàng vừa đứng.
Chiều hôm đó, cô đứng ở cửa sổ gác lửng, đang gỡ cây đèn pha công trình ra để đem trả, thì thấy chiếc xe hơi trắng của Quan Bội Trân đậu ở đầu hẻm. Trân đi bộ vô, tay cầm một bìa hồ sơ, gõ cửa cuốn xanh. Xán ra.
Hai người đứng nói chuyện trước cửa xưởng. Trân chỉ chỉ vô bìa hồ sơ, Xán gật gật. Rồi Trân đưa tay lên, kéo cái cổ áo đoàn của anh cho ngay lại, cái cổ áo bị lật một bên từ hồi nào. Cô kéo xong, vuốt vuốt nó xuống, rồi vỗ nhẹ lên ngực anh hai cái.
Xán đứng im. Không né.
Tiệp gỡ cái chốt đèn pha mạnh tới mức kẹp luôn ngón tay mình.
Sáng Chủ nhật, ngày ba mươi mốt tháng Một.
Bảy giờ, Tiệp dẫn đoàn Thuận Phong ra sân bà Mười. Cô đã tính: ngày ba mươi mốt là ngày lẻ, và nếu Bạch Hạc tháng trước dám vô tập ngày ba mươi mốt thì tháng này Thuận Phong cũng dám.
Bảy giờ, Xán dẫn đoàn Bạch Hạc ra sân bà Mười. Chắc anh cũng tính y vậy.
Hai đoàn đứng ở cổng sân, trước một ổ khóa to bằng nắm tay. Bên kia cổng, bà Mười Huê ngồi trên cái ghế bố dưới gốc me, quạt mo phe phẩy, như đã ngồi đó từ hôm qua.
– Bà Mười, mở cổng cho con. – Tiệp nói.
– Bà Mười, mở cổng cho con. – Xán nói cùng lúc.
Bà Mười quạt mo thêm ba cái.
– Ngày ba mươi mốt bà nghỉ. – Bà nói.
– Tháng trước bà cho Bạch Hạc vô! – Tiệp nói.
– Tháng trước nó mua nước sâm của bà.
– Con cũng mua!
– Mày mua lúc nào?
– Con mua bây giờ! Hai ly!
– Ba ly. – Xán nói.
Tiệp quay qua nhìn anh. Anh nhìn bà Mười, mặt nghiêm.
Bà Mười ngồi im một lúc. Rồi bà đứng dậy, lẹp xẹp đi tới cổng, chìa khóa lủng lẳng trên tay. Bà đứng sau song cổng, ngó hai đoàn lân như ngó hai nồi cá kho.
– Bà nói luật mới. – Bà nói. – Ngày ba mươi mốt, tập riêng thì về. Tập chung thì vô.
Hai đoàn nhìn nhau.
– Tụi con tập chung mà bà. – Thằng Tí Sún nói to. – Tụi con tập song lân!
– Vậy vô. – Bà Mười mở khóa. – Mà nhớ, năm ly nước sâm.
– Ba ly. – Tiệp nói.
– Hai đứa, mỗi đứa ba ly. Bà làm toán giỏi hơn tụi bây.
Cả hai đoàn ùa vô sân, cười rần rần. Tiệp đi sau cùng. Xán đi trước cô một bước. Tới gốc me, cô nói, không nhìn anh:
– Cái máy phát. Tui còn nợ anh.
– Ừ.
– Ghi sổ thì ghi cho đúng. Ghi một cái máy phát thôi.
Anh dừng lại, quay qua. Cái cổ áo đoàn của anh hôm nay cài ngay ngắn, không lệch một li.
– Sổ tui ghi ba thứ. – Anh nói. – Một cái máy phát. Ba ly nước sâm. Và một bài trống.
– Bài trống thì tui nợ gì anh?
– Không phải cô nợ tui. – Anh nói. – Tui nợ ông Thuận.
Anh đi tới chỗ đoàn mình, để cô đứng lại dưới gốc me với ba ly nước sâm chưa trả tiền.
— Hết chương 6 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe