Chương 29: Thắp nhang cho người đã mất
Bánh xe lăn kêu "két" bốn lần từ cửa nhà số 47 tới chân bậc thềm xưởng số 52, đúng bốn lần như hồi tháng Hai, và lần này không ai đếm, vì cả nhà họ Hứa đi phía sau.
Bảy giờ sáng Thứ Ba. Má đẩy xe. Ông nội đi bên trái, áo sơ mi trắng cài nút tới cổ, tay cầm một bó nhang và hai cây dùi trống. Đạt đi bên phải, ôm một dĩa trái cây má bày từ năm giờ sáng: một nải chuối, năm trái quýt, một chùm nho. Tiệp đi sau cùng, chân trái bó nẹp xanh, chống một cây nạng nhôm Đạt xài hồi tháng Tư.
Cả hẻm Cây Sung ra đứng coi. Không ai nói. Bà Mười Huê đứng dưới gốc sung, quạt mo cầm trên tay mà không phe phẩy. Chú Sáu Mỡ đứng sau xe bánh mì, tay cầm con dao phết pa tê, quên phết. Bà Năm bán chè mở cửa sổ. Ông Bảy Lò dắt con chó vàng ra, con chó cũng ngồi im.
Cửa cuốn xanh kéo lên hết. Hai tấm ván dốc Xán bào hồi tháng Hai vẫn kê ở bậc thềm, mép mài tròn. Dì Hảo đứng ở cửa, áo bà ba tím như tối qua, mắt còn sưng.
– Chị Bông. – Dì nói. – Anh Lực. Ông Bảy. Mời vô.
Bàn thờ ông Thiện ở trên sân thượng, hai tầng cầu thang sắt. Cầu thang hẹp, dốc, mỗi bậc chỉ đặt vừa một bàn chân. Xe lăn không lên được.
Xán đứng ở chân cầu thang. Anh quay lưng lại, ngồi xổm xuống trước xe lăn của ba cô.
– Chú lên lưng con. – Anh nói.
Ba cô nhìn cái lưng áo sơ mi trắng trước mặt mình. Ba ngồi im một lúc lâu.
Tiệp đứng ở cửa xưởng, chống nạng, nhìn cảnh đó. Cô thấy ba đưa hai tay ra, đặt lên vai Xán. Hai bàn tay thợ khắc đồng đặt lên hai vai thợ hàn. Má và Đạt đỡ ba nhích ra khỏi xe lăn, choàng hai tay ba qua cổ Xán. Xán đứng dậy. Chậm. Hai tay anh vòng ra sau, đỡ dưới hai đùi ba cô. Hai chân ba thõng xuống hai bên hông anh.
Một người họ Hứa trên lưng một người họ Tiêu. Lần thứ hai.
– Cậu đi chậm. – Ba nói, gần tai Xán. Giọng ba khàn, nhưng có cái gì như cười. – Chú nhắm mắt. Chú không xoay đâu. Chú nhắm mắt thì chú không xoay.
– Dạ. – Xán nói. – Con đi chậm.
Anh bước lên bậc thứ nhất.
Tiệp đứng dưới chân cầu thang, nghe từng tiếng giày của anh gõ lên bậc sắt. Chậm, đều, như tiếng trống đánh cho người già bước lên cầu thang. Cô thấy ba nhắm mắt, mặt áp vô vai anh. Cô thấy hai cánh tay anh căng lên dưới lớp áo sơ mi, gân nổi như kẽm uốn khung. Anh không vịn tay vịn. Anh không có tay để vịn.
Đạt xếp cái xe lăn lại, vác lên vai, đi theo sau. Má đỡ ông nội. Dì Hảo đi trước dẫn đường. Tiệp chống nạng lên từng bậc, chậm hơn ai hết, bậc nào cũng đặt chân phải trước.
Sân thượng xưởng số 52 buổi sáng có nắng xiên qua vòng rào sắt, rọi lên mấy chậu ớt đỏ chín. Cái bàn thờ nhỏ ở góc, lư nhang đồng, dĩa trái cây cũ. Tấm hình trong khung gỗ.
Đạt mở xe lăn. Xán khụy gối xuống, thật chậm, cho ba cô ngồi xuống. Ba mở mắt.
Ba ngồi trước bàn thờ. Ba nhìn tấm hình. Người đàn ông mặt vuông, tóc hớt cao, sẹo nhỏ ở cằm, cười rộng tới mang tai.
Ông nội đưa cho ba ba cây nhang. Dì Hảo bật lửa. Ba cầm nhang, hai tay, giơ lên ngang trán.
– Anh Thiện. – Ba nói. – Em tới trễ.
Rồi ba không nói gì nữa. Ba ngồi đó, ba cây nhang cháy trên tay, khói bay lên thẳng rồi tạt ngang theo gió. Vai ba run. Tiệp đứng sau lưng ba, thấy giọt nước mắt rơi xuống cái áo sơ mi ba mặc, cái áo ba chỉ mặc đi đám cưới.
Lâu lắm, ba mới cắm nhang vô lư.
Má thắp nhang. Má đứng trước tấm hình, cái người mà má tạt ca nước vô mặt ở hành lang bệnh viện.
– Anh Thiện. – Má nói. – Tôi tạt nước anh. Anh không chùi.
Má cắm nhang. Má không nói thêm. Má đứng đó, nhìn tấm hình, rồi đưa tay lên, chạm vô mặt kính, chỗ cái cằm có sẹo. Một cái chạm nhẹ, như người ta lau một giọt nước.
Đạt thắp nhang sau má. Nó cầm ba cây nhang lóng ngóng, như cầm cặp dùi trống lần đầu. Nó đứng trước tấm hình, nhìn cái người đã đứng dưới chân ba nó trên cây cọc hai mét tám, cái người nó chỉ biết tên từ hồi tháng Tư.
– Con chào chú. – Nó nói. Rồi nó gãi đầu, như không biết nói gì tiếp với một người đã mất mà mình chưa từng gặp. – Con là thằng hay đứng cọc ở dưới xưởng. Con học anh Xán. Anh Xán học chú. Vậy là con học chú.
Nó cắm nhang, cắm lệch, phải cắm lại. Rồi nó nói thêm, nhỏ hơn:
– Con hứa với chú. Đứng trên cao mà con thấy xoay, con nói liền. Con không giấu.
Ba quay đầu lại nhìn nó. Ba không nói gì. Ba chỉ đưa tay ra, nắm lấy cổ tay thằng con trai, nắm chặt, như nắm một cái cổ chân.
Ông nội không thắp nhang. Ông đưa phần nhang còn lại cho dì Hảo cất. Rồi ông đi tới vòng rào sắt sát bàn thờ, cầm hai cây dùi trống lên.
Ông gõ lên thanh rào sắt.
Tùng tùng tùng… tùng.
Tiếng sắt khô, không ngân như da trống. Nhưng là "Mưa rơi mái tôn". Ông gõ chậm. Chậm hơn bất kỳ lần nào Tiệp từng nghe. Chậm như người ta đánh trống trong đêm mưa, cho một thằng nhỏ mười chín tuổi đứng dưới mái hiên tiệm bánh bò nghe kịp.
Dì Hảo khóc thành tiếng.
Ông gõ hết bài. Ở nhịp kết, ông gõ thêm một tiếng hụt.
Rồi ông để dùi xuống, quay lại nhìn tấm hình.
– Thiện. – Ông nói. – Tao cảm ơn mày.
Ông đứng im. Rồi ông nói thêm, giọng nhỏ hơn, cục cằn hơn, như người ta nói khi đã quá xấu hổ:
– Mày đánh chỗ hụt trễ. Tao nói rồi đó.
Tiệp đứng tựa vô vòng rào, cây nạng nhôm kẹp dưới nách. Cô nhìn tấm hình.
Người trong hình cười rộng tới mang tai. Cái cười hồi tháng Ba cô thấy quen, như đã gặp ngoài đời, lâu lắm rồi.
Bây giờ cô đứng đây, khói nhang bay qua mặt, nắng sớm rọi lên khung gỗ, và cái quen đó trồi lên. Không rõ. Như một cái bóng dưới nước. Một đêm có đèn, có trăng, có tiếng người ồn ào. Một người đàn ông ngồi xổm trước mặt cô, ngang tầm mắt một đứa con nít mười hai tuổi. Cười rộng tới mang tai. Một cái áo màu đỏ, áo của đoàn Thuận Phong, mà cô biết không phải người trong đoàn. Một mùi. Mùi dầu gió, nồng, cay, từ hai bàn tay người đó.
Và có cái gì đó ngọt, đặt vô tay cô.
Cô cố nhớ. Cô không nhớ ra hơn. Cái bóng dưới nước chìm xuống.
Dầu gió. Ông Thiện vừa cạo gió cho ba cô sau rạp.
Cô đứng im, tay bấu vô thanh rào sắt.
Chín giờ, người lớn đi xuống.
Xán cõng ba cô xuống, chậm như lúc lên. Ba nhắm mắt suốt hai tầng cầu thang. Dì Hảo kéo má cô với ông nội vô bếp dưới lầu, nói pha trà, nói có bánh bò dì làm từ tối qua. Ông nội đứng ở chân cầu thang một lúc, nghe chữ "bánh bò", rồi đi vô bếp không nói gì.
Đạt đem dĩa trái cây xuống. Nó nhìn chị nó đứng tựa vòng rào, rồi nhìn Xán vừa đi lên lại một mình, rồi nó đi xuống thật nhanh, không ai bảo.
Hai người đứng trên sân thượng. Gió từ phía kênh thổi lên. Nhang trên bàn thờ đã cháy được nửa.
– Chân cô sao rồi? – Anh hỏi.
– Bong gân độ hai. Nẹp ba tuần.
– Ừ.
Cô nhìn anh. Anh đứng cách cô hai bước, áo sơ mi trắng ướt một mảng ở lưng, chỗ ba cô áp mặt vô suốt hai tầng cầu thang.
– Hôm Chủ nhật, – cô nói, – ở hành lang. Tui nói anh y như ba anh.
– Ừ.
– Tui nói lại. – Cô nói. – Lần này đúng nghĩa.
Anh im một lúc.
– Hôm Chủ nhật, – anh nói, – cô nói câu đó xong, tui đi múa. Múa xong tui về, nằm cả đêm. Tui nghĩ hoài câu đó. Tui y như ba tui. Tui không biết cô nói nghĩa gì. Mà tui nằm đó, tui mừng.
Tiệp nhìn anh. Cô thấy mắt mình cay, không phải vì khói nhang.
– Anh mừng cái gì?
– Mười sáu năm tui sợ tui giống ba tui. – Anh nói. – Tui sợ một ngày tui cũng đỡ hụt. Cái đêm Chủ nhật, cô la tui y như má cô la ba tui. Mà tui biết tui không đỡ hụt. Tui mới biết ba tui cũng không.
Gió thổi qua. Cái lư nhang đồng kêu khẽ một tiếng.
– Xán. – Cô nói. – Tui hỏi anh một chuyện.
– Ừ.
– Đêm hội chợ. Trước giờ múa. Ba anh có… – Cô ngừng, không biết hỏi sao. – Ba anh có cho đứa con nít nào cái gì không? Một đứa con gái.
Anh nhíu mày. Anh nghĩ, lâu, như người ta lục một cái hộp đồ nghề cũ.
– Tui không nhớ. – Anh nói. – Tui mười lăm tuổi. Tui lo coi cọc. Tui phụ mấy anh trong đoàn khiêng cọc vô sân, rồi đứng giữ chân cọc. Ba tui đi đâu tui không biết hết.
– Ừ.
– Sao cô hỏi?
– Tui nhớ một mùi dầu gió. – Cô nói. – Với một cái cười. Vậy thôi.
Anh nhìn cô. Rồi anh nhìn tấm hình. Rồi anh không nói gì, và cô thấy anh không vô tình không nói. Anh để dành.
Nhang trên bàn thờ cháy gần hết. Dưới lầu có tiếng dì Hảo cười, lần đầu tiên từ tối qua, tiếng cười lơ lớ vui vẻ của người Hoa nói tiếng Việt từ nhỏ. Rồi tiếng ông nội nói gì đó, cụt lủn. Rồi tiếng dì Hảo cười lần nữa, to hơn.
– Ông nội tui chê bánh bò của má anh. – Tiệp đoán.
– Chắc vậy. – Xán nói. – Mà ông ăn.
Hai người đứng nghe. Cô thấy khóe miệng anh nhích lên. Không phải cười. Như người ta thả lỏng một con ốc đã vặn quá chặt.
Rồi anh quay qua cô. Mặt anh nghiêm lại.
– Chủ nhật chung kết. – Anh nói. – Lân trắng không có gương.
– Gương ở nhà tui.
– Tui biết. – Anh nói. – Tui không xin lại cái gương.
– Vậy anh xin cái gì?
Anh nhìn cô. Gió thổi qua sân thượng, tạt khói nhang qua giữa hai người, mỏng như sợi chỉ.
– Một con lân. – Anh nói. – Của hai nhà.
— Hết chương 29 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe