Chương 22: Người đàn bà giữ lời chồng
Má anh lau tấm hình ba anh bằng một cái khăn mùi xoa cũ, lau mặt kính trước rồi lau tới khung gỗ, và lau cái cười rộng tới mang tai đó lâu hơn chỗ khác.
Năm giờ sáng Thứ Ba, hai mươi tháng Tư, bốn ngày trước chuyến xuống miền Tây. Xán đi lên sân thượng tưới mấy chậu ớt thì thấy má đã ở đó. Dì Hảo mặc bộ đồ bộ in bông mẫu đơn đã bạc, tóc chưa chải, ngồi trên cái ghế nhựa thấp trước bàn thờ nhỏ, tấm hình đặt trên đùi. Ngày nào má cũng lên đây lau hình, anh biết. Anh chỉ ít khi lên sớm bằng má.
Anh đặt bình tưới xuống. Anh ngồi xuống bậc xi măng sát vòng rào, chỗ đêm Rằm tháng Hai anh ngồi với Tiệp, chỗ cô kể cái gương xoay như đồng xu.
– Má.
– Ờ. – Dì Hảo không ngẩng lên.
– Con hỏi má một lần nữa thôi.
Cái khăn mùi xoa dừng trên mặt kính.
– Con không hỏi má ba con dặn gì. – Xán nói. – Con biết ba dặn gì rồi. Con hỏi cái khác. Cái đêm đó, ba về nhà, ba làm gì?
Dì Hảo im rất lâu. Dưới hẻm, có tiếng cô Bông nhóm bếp than nấu nước lèo.
– Ba con về lúc trời gần sáng. – Dì nói. – Từ bệnh viện trên Thủ Dầu Một. Không đi xe tải. Đi xe đò. Con ngủ rồi. Ba con vô nhà tắm, đóng cửa. Má nghe nước chảy. Nước chảy cả tiếng đồng hồ. Má gõ cửa, ba con không mở.
Dì gấp cái khăn mùi xoa làm tư, đặt lên đùi.
– Rồi ba con ra. – Dì nói. – Tóc ướt, áo còn mặc nguyên cái áo đoàn đỏ của nhà bên đó, cái áo ba con mượn để làm đuôi. Ba con ngồi xuống cái ghế ở bếp. Má hỏi: "Ông, có phải tại ông không?" Ba con nói: "Bà. Tôi không có lỗi. Mà tôi phải nhận."
Xán ngồi im.
– Má hỏi tại sao. – Dì Hảo nói. – Ba con nói: "Bà đừng hỏi. Bà hỏi thì tôi nói. Tôi nói thì tôi mất lời." Rồi ba con dặn má đúng cái câu đó. Chuyện đêm đó chôn theo tôi.
– Mất lời với ai?
– Má không biết. – Dì nói, rồi nhìn anh. – Thiệt. Má không biết. Hai mươi bảy năm làm vợ, ba con giấu má có đúng chuyện đó.
Dì cầm tấm hình lên, đặt lại lên bàn thờ, chỉnh cho ngay.
– Má chỉ biết mấy chuyện vụn. – Dì nói. – Ba tháng sau đó, ngày nào ba con cũng đi. Sáng đi, tối về. Có bữa về, áo ướt nguyên một mảng ngực. Trời không mưa. Má hỏi, ba con nói đi rửa xe. Ba con đâu có xe. Tháng thứ hai, ba con bán chiếc xe tải chở cọc. Má hỏi tiền đâu, ba con nói trả nợ. Nhà mình không nợ ai. Má không hỏi nữa.
Dì Hảo đứng dậy, cầm bình tưới của anh lên, tưới mấy chậu ớt.
– Thằng Xán. – Dì nói, quay lưng về phía anh. – Ba con không có lỗi. Má tin vậy mười lăm năm nay. Mà má không biết vì sao má tin. Con đi tìm cái vì sao đó đi. Má già rồi.
Thứ Bảy, hai mươi bốn tháng Tư, một giờ trưa, Xán chạy xe xuống miền Tây.
Anh Hai Cò về quê từ tuần trước, nhà ở một xóm dừa cách bến phà cũ chừng mười cây số, đường đất đỏ chạy dọc một con kênh nhỏ. Anh từng theo ba xuống đây một lần, năm mười sáu tuổi. Lần này anh lạc hai lần, hỏi đường ba lần, tới nơi lúc gần năm giờ chiều.
Anh Hai Cò ngồi trên cái chõng tre dưới gốc dừa trước nhà, ở trần, quấn cái khăn rằn trên cổ, đang vá lưới. Thấy Xán dắt xe vô cổng, anh không ngạc nhiên. Anh để cái lưới xuống, kêu vô nhà:
– Bà nó ơi! Pha bình trà! Thằng Xán tới!
Rồi anh nói với Xán:
– Tao biết mày tới. Từ hồi nghe con lân trắng đứng ở cửa xưởng mà không có gương, tao biết mày sẽ tới.
Xán ngồi xuống cái chõng tre. Mặt trời đã ngả, rọi xiên qua tàu dừa, rải lên mặt mương những vệt vàng. Một con vịt bơi ngang, kéo theo một vệt nước dài.
Anh kể anh Hai nghe cái gương, bông sen, câu ông Thuận nói, câu ba dặn má.
Anh Hai Cò nghe hết. Anh Hai rót trà ra hai cái chén nhỏ, trà nóng bốc khói, đẩy một chén qua cho Xán. Rồi anh Hai ngồi im, nhìn ra mương, lâu tới mức con vịt bơi ngang lần thứ hai.
– Ba mày dặn tao một câu. – Anh Hai nói. – Mấy ngày sau đêm đó. Ba mày nói: "Hai Cò, mày quên giùm tao." Tao nói: "Quên cái gì?" Ba mày nói: "Cái gì mày thấy sau rạp. Mày quên giùm tao." Tao quên mười lăm năm.
Xán cầm chén trà. Trà nóng, anh không thấy nóng.
– Sau rạp có gì anh Hai?
Anh Hai Cò thở ra một hơi dài.
– Tối đó, chừng bảy giờ, còn nửa tiếng nữa tới tiết mục cọc. – Anh Hai nói. – Tao đi ra sau rạp đi tiểu. Phía sau là bãi đất trống, có mấy cái xe tải đậu. Tao thấy chú Lực đứng vịn vô bánh xe tải của ba mày. Cúi người xuống. Ói.
– Ói?
– Ói. Ói tới mật xanh. Mặt trắng bệch như giấy bản. Ba mày đứng kế bên, một tay đỡ lưng chú Lực, một tay cầm chai dầu gió. Ba mày cạo gió cho chú, ngay đó, dưới ánh đèn xe. Lưng chú Lực đỏ bầm lên từng vệt.
Anh Hai Cò ngừng, nhấp một ngụm trà.
– Tao nghe chú Lực nói: "Chóng mặt từ chiều, anh. Chắc trúng gió." Ba mày nói: "Mày như vầy thì đừng lên. Để tao kêu thằng Út thay." Thằng Út hồi đó là đầu lân cọc của Bạch Hạc. Chú Lực nói: "Không được anh. Giải đầu lân đẹp năm triệu. Lân vàng là lân của em, em phải đội."
– Năm triệu.
– Năm triệu. Năm đó năm triệu là nhiều lắm. – Anh Hai nói. – Ba mày hỏi: "Mày cần chi gấp vậy?" Chú Lực nói: "Chuyện con nhỏ." Rồi chú Lực thấy tao. Chú đứng thẳng lên, chùi miệng, cười. Chú nói: "Anh Hai, trúng gió chút xíu, anh đừng nói với ông Thuận nghe." Tao gật. Tao đi vô.
– Rồi anh không nói?
– Tao không nói. – Anh Hai Cò nói. – Tao tưởng trúng gió thiệt. Người múa lân trúng gió là chuyện thường. Cạo gió xong, uống ly nước gừng, lên múa ngon lành. Tao thấy nhiều lần rồi.
Anh Hai nhìn Xán.
– Rồi tao đứng đánh chiêng, mày đứng cạnh tao. Tới đoạn con lân vàng lên cây cao nhất, tao ngước lên. Tao thấy cái đầu lân ngửa lên trời. Lúc đó trăng sau lưng nó. Rồi nó ngửa thêm một chút nữa. Ngửa quá. Ngửa quá cái mức đầu lân phải ngửa.
Anh Hai Cò đặt chén trà xuống chõng tre.
– Rồi tao thấy cái đầu lân nghiêng ra ngoài. – Anh nói. – Trước. Trước khi tay ba mày đổi chỗ. Tao theo lân hơn hai mươi năm, tao biết con lân chao trước hay người đỡ hụt trước. Con lân chao trước.
Xán ngồi trên chõng tre, hai tay cầm chén trà nguội. Ngoài mương, mặt trời đã lặn sau rặng dừa phía bên kia, nước chuyển sang màu tím.
Một thằng nhỏ mười lăm tuổi đứng cạnh anh Hai Cò, nhìn ba nó. Nó thấy hai bàn tay ba nó đổi chỗ, vì nó nhìn hai bàn tay ba nó. Mười lăm năm, nó giữ cái thấy đó trong túi quần, như giữ cái gương.
– Sao anh Hai không nói? – Anh hỏi. Giọng anh không còn đều. – Sau này. Lúc ba con nhận lỗi. Lúc cả hẻm nói ba con đỡ hụt.
– Ba mày dặn tao quên. – Anh Hai Cò nói. – Ba mày dặn cái gì, tao làm cái đó. Hồi còn sống ba mày dặn tao, có ngày gặp trống ông Thuận thì đánh theo ổng. Năm ngoái tao còn ngại. Mùng Một năm nay gặp, tao đổi. Ba mày dặn tao quên, tao quên. Mười lăm năm.
Anh Hai rót thêm trà. Tay anh run một chút, nước trà đổ ra chõng.
– Mà mày tới hỏi, thì tao nhớ lại. – Anh nói. – Ba mày chết rồi. Tao quên giùm ba mày đủ rồi.
Xán chạy xe về tới hẻm Cây Sung lúc mười một giờ đêm.
Anh không vô xưởng. Anh dắt xe đi bộ từ đầu hẻm, tắt máy, tới giữa hẻm thì dựng xe dưới gốc sung. Anh ngước lên. Gác lửng nhà số 47 tối. Nhưng anh biết cô không ngủ. Hai năm nay anh biết đèn trên gác đó tắt lúc mấy giờ, và tắt rồi thì cô có ngủ hay không.
Anh gọi tên cô. Một tiếng.
Cánh cửa sổ gỗ cũ đẩy ra, cái chốt kêu "cạch". Cô ló đầu ra, tóc xõa, mặc cái áo thun cũ in hình con lân đã phai màu. Anh nói với cô câu anh đã nói trong đầu suốt bốn tiếng trên đường về. Cô nghe xong, rút đầu vô.
Một phút sau, cửa nhà số 47 hé ra. Cô đi ra, chân không, khép cửa lại sau lưng thật nhẹ. Hai người ngồi xuống bậc cửa xưởng số 52, chỗ đêm giao thừa, chỗ đêm ông Thuận đi lạc.
Anh kể hết, từ dì Hảo trên sân thượng tới anh Hai Cò dưới gốc dừa. Cái nhà tắm nước chảy một tiếng. Cái áo ướt một mảng ngực khi trời không mưa. Chiếc xe tải bán đi trả một món nợ không có. "Chóng mặt từ chiều." "Chuyện con nhỏ." Con lân chao trước.
Tiệp nghe không ngắt lời lần nào. Lúc anh kể tới cái áo ướt, anh thấy cô cúi đầu, hai tay nắm chặt hai đầu gối.
Rồi tới lượt cô. Cô kể cái hũ tăm tre đứng trên nắp chai nước tương. Đỡ chỗ chân chạm đất. Buông hông là vì đã thấy người ta chao. Cô kể má cô tạt ca nước vô mặt một người đàn ông có cái sẹo nhỏ ở cằm, ở hành lang bệnh viện, và người đó không chùi.
Xán ngồi im. Anh nhìn xuống hai bàn tay mình, hai bàn tay ba anh dạy anh cầm que hàn.
– Áo ướt nguyên mảng ngực. – Anh nói. – Má tui nói ba tui đi rửa xe.
– Ba anh không chùi. – Tiệp nói. Rồi cô nói, nhỏ hơn: – Ba anh không buông. Ba anh đỡ.
– Ba cô bệnh. – Xán nói. – Ba cô chóng mặt từ chiều. Ba cô biết mà vẫn lên.
– Vì năm triệu.
– Vì chuyện con nhỏ.
Tiệp quay qua nhìn anh.
– Năm đó, – cô nói, – nhà tui có hai đứa nhỏ. Tui mười hai. Thằng Đạt bốn tuổi.
Anh không trả lời. Anh không biết trả lời gì. Cô cũng không chờ anh trả lời. Cô ngồi nhìn qua bên kia hẻm, nhìn cửa nhà mình đóng im, nhìn cái cửa sổ buồng ba má tối thui.
Một lúc lâu, cô nói:
– Câu tui nói trên xe Trân. Bữa thằng Đạt té.
Anh chờ.
– "Nhà anh với cái cọc của anh." – Cô nói. – Tui rút lại.
– Không rút được. – Anh nói. – Nói rồi.
Cô quay phắt qua. Anh nhìn cô. Dưới đèn đường vàng, anh thấy cô sắp cãi, cái cằm hất lên một chút, đúng cái kiểu trước cửa tiệm thuốc bắc. Anh nói tiếp, trước khi cô kịp mở miệng:
– Nhưng tui không giữ.
Cô ngậm miệng lại. Cô nhìn anh rất lâu. Rồi cô quay mặt đi, nhìn xuống cái lưới inox trên miệng cống, và anh thấy vai cô hạ xuống, như người ta thả cái đầu lân ra sau một buổi múa dài.
Họ ngồi tới khi trăng mười tám lên cao khỏi mái tôn đầu hẻm. Không ai nói thêm gì.
Sáng Thứ Hai, hai mươi sáu tháng Tư, tám giờ, Xán lên phường.
Anh cầm bìa hồ sơ của đoàn Bạch Hạc Đường. Hạn nộp đơn Hội thi là cuối tháng Sáu, nhưng anh không muốn đợi. Anh muốn làm một việc có giấy tờ, có số. Một việc mà điền đúng ô thì xong.
Phòng văn hóa – xã hội ở lầu hai. Cửa mở. Chị Mận ngồi sau cái bàn, cặp kính lão trễ xuống mũi, đang nói gì đó với một người ngồi trên cái ghế đối diện. Cái ghế gãy chân. Người đó ngồi lệch.
Xán đứng sững ở cửa.
Ông Thuận mặc cái áo sơ mi trắng đi đánh cờ, cài nút tới cổ. Trước mặt ông là một tờ đơn đăng ký Hội thi. Ông cầm cây bút bi của phường, cái bút cột dây vô bàn, và đang viết, chữ to, đè mạnh, từng nét một như đục khắc.
"Tên đoàn: Thuận Phong."
"Người đánh trống: Hứa Văn Thuận. Năm sinh: 1947."
Chị Mận ngẩng lên, thấy anh, mặt chị sáng lên như người coi phim tới đoạn hay.
– Ủa. Em Xán. Em cũng nộp đơn hả?
Ông Thuận không quay lại. Ông viết xong chữ số bảy cuối cùng, đặt cây bút xuống, rồi mới nói, không nhìn ai:
– Thằng kỹ sư.
– Dạ.
– Mày đăng ký cọc hả.
– Dạ.
Ông Thuận đứng dậy khỏi cái ghế gãy chân, chỉnh lại vạt áo. Rồi ông quay lại nhìn anh, lần đầu tiên từ lúc anh đứng ở cửa. Trong cặp mắt sâu hõm của ông, Xán thấy một thứ anh chưa từng thấy ở đó. Không phải giận. Không phải ghét. Giống như cái nhìn của người cầm dùi trống trước khi đánh tiếng đầu tiên.
– Tao đăng ký đất. – Ông nói. – Tao với mày gặp nhau ở chung kết.
— Hết chương 22 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe