Chương 35: Ngày ba mươi mốt
Tấm bảng gỗ treo bên trong cửa sắt kho gạo cũ, sơn trắng, chữ đen. Người viết là bà Mười Huê, bảy mươi bảy tuổi, cầm cây cọ sơn Tiệp đưa, tay run mà nét chữ vẫn to, vẫn đè mạnh như trên tấm băng rôn ở nhà thi đấu.
"NGÀY LẺ: THUẬN PHONG.
NGÀY CHẴN: BẠCH HẠC.
SÁNG CHỦ NHẬT: TỤI NHỎ.
NGÀY 31: TẬP CHUNG."
Bà viết xong dòng cuối, đứng lùi lại hai bước, ngắm, rồi gật gù.
– Vậy là hết cãi. – Bà nói.
Chủ nhật, ba mươi mốt tháng Mười. Ngày ba mươi mốt đầu tiên ở sân mới.
Sân bà Mười đã rào từ cuối tháng Chín. Tấm tôn mới cao ba mét chạy quanh, dán giấy phép xây dựng ở cổng. Cây me già vẫn còn đứng bên trong, ngó qua vách tôn, nhưng người ta nói tháng sau sẽ đốn. Bà Mười không đi ngang đó nữa. Bà nói đi ngang thấy cây me ngó qua vách, bà tưởng nó gọi bà.
Ngày dọn sân, thằng Tí Sún ngồi chồm hổm dưới gốc me cả buổi, đào bằng cái muỗng nhôm. Tới chiều nó đứng dậy, hai tay ôm một cây me con cao chừng một gang tay, rễ còn dính cục đất. Nó tìm được nó mọc từ một hột me rụng, ngay sát gốc cây me già.
Bây giờ cây me con đó nằm trong một cái thùng sơn cũ, đặt ở cửa kho, tưới mỗi sáng. Đứa nào đi ngang cũng tưới, nên nó bị tưới năm sáu lần một ngày. Xán khoan lỗ thoát nước dưới đáy thùng cho nó khỏi úng.
Hai đoàn đứng trong kho, áo đỏ một bên, áo vàng một bên, nhìn tấm bảng.
Kho gạo cũ bây giờ không còn giống kho gạo. Nền xi măng Xán cho mài lại, sơn một lớp chống trơn màu xám. Mái tôn mới thay mười hai tấm. Ở góc bên phải, hệ cọc của Bạch Hạc dựng sát vách, chân đế ba chân bắt bu lông xuống nền, thảm xốp trải dưới. Ở góc bên trái, ba tầng bàn tập của Thuận Phong. Ở giữa, một khoảng trống lớn cho hai con lân múa đất.
Trên vách phía trong cùng, Xán đóng một cái kệ gỗ dài. Trên đó là tám cái đầu lân.
Một con đỏ mắt phượng. Một con đen râu bạc. Một con xanh lá viền vàng. Một con đỏ sừng cong. Một con cam. Một con đỏ râu trắng. Một con hồng tím. Bảy con lân của khách Biên Hòa, dưới mỗi con vẫn còn mẩu băng keo giấy: "1 – 03/2024", "2 – 08/2024"… Bảy con lân Tiệp làm, giờ là của lớp sáng Chủ nhật. Tụi nhỏ lớn thêm vài tuổi là đội được.
Còn chỗ thứ tám trên kệ để trống.
Con lân vàng không có trên kệ. Nó nằm ở nhà số 47, trên bàn làm việc của ba.
Hôm sau Trung thu, Xán ôm nó qua. Anh đặt nó lên bàn ba, cái trán thủng một lỗ tròn quay lên trần nhà.
– Con lân này của chú. – Anh nói. – Ba con đặt nó cho chú. Tui chỉ là người ký tên.
Ba nhìn con lân vàng. Mắt phượng, Tiệp vẽ dưới ánh đèn pha công trình đêm cúp điện tháng Chạp. Ba đưa tay vuốt lông bờm.
– Còn cái phong bì. – Tiệp nói, đứng sau xe lăn của ba. – Mười bốn triệu. Con lân có chủ rồi. Anh nhận chưa?
Xán quay qua cô.
– Nhận rồi. – Anh nói. – Cọc thuê kho.
Cô không cãi được. Ba cười. Ba cầm cây thước kẹp lên, đo cái lỗ tròn trên trán con lân vàng.
– Ba làm gương mới. – Ba nói. – Tới Tết.
Bây giờ là ngày ba mươi mốt tháng Mười, và cái lỗ tròn trên trán con lân vàng vẫn còn trống. Ba nói vành gương phải khắc chậm. Ba không cho ai coi.
– Tập! – Bà Mười Huê đập quạt mo lên tấm bảng gỗ, bộp một cái. – Đứng đó nhìn bảng hoài!
Cái quạt mo. Tiệp nhìn nó. Bà Mười cầm nó từ hồi Tiệp chưa ra đời. Cán quạt đã mòn láng theo bàn tay bà, mép mo cau đã sờn, chỗ bà hay gõ đầu con nít đã móp vô một vết.
Tuần sau bà Mười đi. Thằng Hai nhà bà mua một căn hộ chung cư ở lầu mười hai, bên kia sông, có thang máy, có ban công. Nó nói má già rồi, ở trên đó có người coi. Bà nói bà không đi. Rồi bà đi. Bà nói bà đi, mà chiều nào bà cũng về hẻm bán nước sâm, ngồi chỗ cũ dưới gốc sung, cái ghế bố để ở nhà ông Bảy Lò.
– Bà Mười. – Tiệp nói.
– Gì?
– Lầu mười hai có ai cho bà gõ đầu không?
Bà Mười nhìn cô. Rồi bà nhìn xuống cái quạt mo trên tay mình. Bà đứng im một lúc lâu. Rồi bà đưa cái quạt mo ra.
– Cầm.
Tiệp nhìn cái quạt.
– Bà…
– Cầm. – Bà Mười nói, giọng chua như cũ. – Bà lên lầu mười hai, đem theo cái này người ta tưởng bà đi đuổi muỗi. Con giữ. Con giữ lịch. Đứa nào cãi ngày ba mươi mốt thì con gõ.
Tiệp cầm cái quạt mo. Nó nhẹ hơn cô tưởng. Cán quạt còn ấm tay bà.
– Gõ thằng Xán trước. – Bà Mười nói, hất cằm về phía anh. – Nó hay cãi nhất.
Cả hai đoàn cười rần. Xán đứng ở góc cọc, không cãi.
Tập chung.
Lân đỏ Thuận Phong, Tiệp đội đầu, Đạt làm đuôi. Cổ chân trái của cô tháo nẹp được một tháng. Bác sĩ cho múa lại từ hai tuần trước, dặn tập nhẹ. Cô tập nhẹ. Lân trắng ngà Bạch Hạc, Xán đội đầu, Thạnh làm đuôi. Cái gương nứt trên trán, ba cái chấu giữ chặt.
Ông nội ngồi trên cái ghế có tựa lưng. Ông không đánh trống.
– Hôm nay ngày ba mươi mốt. – Ông nói. – Tập chung thì trống chung. – Ông chỉ cây dùi về phía Xán. – Xán đánh. Tao nghỉ.
Cả kho im một giây.
Tiệp đứng trong đầu lân đỏ, nghe cái tên đó. Không phải "thằng kỹ sư". Không phải "mày". Xán.
Mười tháng. Mười tháng từ cái sáng trước tiệm thuốc bắc Bảo An Đường. Ông nội gọi tên anh lần đầu tiên.
Xán đứng sững dưới gốc cọc. Anh tháo đầu lân trắng ngà ra, đưa cho Thạnh. Anh đi tới cái trống cái. Ông nội đứng dậy khỏi cái ghế có tựa lưng, đưa cặp dùi cho anh.
– Ngồi. – Ông nói.
Xán ngồi lên cái ghế. Anh cầm dùi.
– Mưa rơi mái tôn. – Ông nội nói. – Chỗ hụt mày đánh trễ. Giữ vậy. Đừng sửa.
– Dạ.
Anh đánh.
Tùng tùng tùng… tùng.
Chỗ hụt trễ hơn ông nội một chút xíu. Đúng như thằng Thiện nghe qua vách.
Lân đỏ bước ra. Lân trắng bước ra. Hai con gặp nhau ở giữa kho, cúi đầu chào. Thạnh đội lân trắng, nên Tiệp biết người cúi đầu chào lân đỏ không phải Xán. Lần này cô không tiếc. Người đó đang ngồi đánh trống cho cô múa.
Tới đoạn ba tầng bàn, cô dừng lại trước bàn tập. Lần đầu tiên từ bán kết.
Cô nhìn lên. Hai mét hai mươi lăm. Cô nhớ cái chân trái trượt ra ngoài. Cô nhớ mép bàn, sàn thi đấu xanh lá xa tít bên dưới.
Cô bước lên tầng một. Tầng hai. Tầng ba. Quỳ. Đạt quỳ sau lưng.
Cô đứng dậy.
Không ai đứng trên cây cọc trước mặt cô. Người hay đứng đó đang ngồi đánh trống. Cô nhìn ra trước, qua cái lỗ dưới cằm lân. Trên vách phía trước, ngang tầm mắt cô đúng hai mét hai, là cái kệ gỗ dài có bảy cái đầu lân và một chỗ trống.
Lân trắng ngà đã quay lại đứng dưới chân kệ, Thạnh đội. Nó ngửa đầu lên nhìn lân đỏ trên ba tầng bàn, đúng như bài.
Cái gương nứt trên trán nó bắt ánh đèn pha, hắt lên một vệt sáng.
Gương còn sáng.
Con lân đỏ ngửa đầu. Rũ lông. Chớp mắt. Ngậm lộc.
Xán đánh một tiếng hụt ở nhịp kết. Một tiếng hụt không có trong bài.
Lúc cô xuống tới đất, tháo đầu lân ra, tóc bết mồ hôi, cô thấy dì Hảo đứng ở cửa kho, tay ôm một hộp bánh bò. Dì đặt hộp bánh lên cái ghế nhựa cạnh ông nội.
– Ông Bảy. – Dì nói. – Bánh bò. Lần này tui bớt đường.
Ông nội nhìn hộp bánh. Ông lấy một cái, ăn.
– Lạt quá. – Ông nói.
Ông lấy cái thứ hai.
Dì Hảo cười tới mức phải lấy khăn mùi xoa che miệng. Má đứng cạnh dì, cũng cười. Hai người đàn bà đứng cạnh nhau ở cửa kho, một người áo bà ba tím, một người tạp dề dính nước lèo.
Điện thoại Tiệp rung trong túi áo. Một cuộc gọi có hình. Quan Bội Trân, tóc buộc cao, sau lưng là một bãi biển xanh và mấy chiếc thuyền thúng.
– Chị Tiệp! Ngày ba mươi mốt đó! Em nhớ mà! – Trân la trong điện thoại. – Quay cho em coi cái kho đi!
Tiệp xoay điện thoại một vòng. Bảy cái đầu lân trên kệ. Hệ cọc. Ba tầng bàn. Ông nội đang ăn cái bánh bò thứ hai. Xán ngồi ở cái trống cái, cặp dùi trên đùi.
– Trời đất. – Trân nói. – Ông Thuận ăn bánh của dì Hảo hả? Em đi có sáu tháng mà cái hẻm đổi chủ rồi. – Rồi cô hạ giọng. – Mà nè. Chừng nào hai người tính, nhớ gửi thiệp cho em. Em bay vô.
– Tính cái gì! – Tiệp nói.
Ở sau trống, Xán lên tiếng, không ngẩng lên:
– Chưa tính.
Tiệp quay phắt lại.
– Chưa tính là sao?
– Là chưa tính. – Anh nói, lau dùi trống bằng vạt áo. – Không phải không tính.
Cô đứng đó, cầm cái điện thoại, nghe Trân cười trong loa, và cô nhớ ra câu đó. Câu cô nói với thằng Đạt trên gác phơi hồi tháng Hai, về cây cọc. "Chưa cho. Không phải không cho."
Thằng Đạt đứng ở góc kho, nghe hết, quay mặt vô vách tôn, vai rung.
Chiều đó còn một tin nhắn nữa, từ Huế. Bác sĩ Nghĩa. "Tháng sau anh về. Lần này chị mời nha, nhớ có anh kỹ sư. Anh muốn coi hai người cãi nhau."
Cô nhắn lại: "Tụi em không cãi nữa." Rồi cô nhìn qua Xán đang tranh với Đạt chuyện ai khiêng cái trống, xóa đi, nhắn lại: "Anh về thì biết."
Chiều tối, hai đoàn dọn đồ. Bà Mười ngồi trên cái ghế nhựa ở cửa kho, cạnh cái thùng sơn có cây me con, nhìn ra hẻm. Trời đã tối, đèn đường bật.
– Tết này, – bà nói, không nói với ai, – mùng Một, hẻm mình còn lệ không?
– Còn. – Ông nội nói.
– Hai con lân?
– Hai con.
Bà Mười gật gù.
Rồi có tiếng bánh xe lăn kêu "két" ở cửa kho.
Ba cô ngồi đó, Đạt đẩy. Ba đã ngồi ở góc kho coi cả buổi tập, mắt nhắm lúc lân đỏ lên bàn, mở ra lúc lân đỏ xuống.
– Ba. – Ba nói với ông nội. – Mùng Một năm nay.
Ông nội quay lại.
– Con đánh nhịp mở. – Ba nói.
Kho im.
Mười sáu năm, ba không đánh trống. Ba ngồi xe lăn, ba vẽ mắt lân, ba khắc vành gương. Tiệp chưa nghe ba đánh một tiếng trống nào từ năm cô mười hai tuổi.
Ông nội nhìn ba. Lâu.
– Mày còn nhớ bài không?
– Con đánh được tám phần. – Ba nói. – Hồi đó.
– Tám phần. – Ông nội nói. – Thằng Xán mười phần. Con Tiệp tám. Mày tám.
Ông quay lưng đi ra hẻm, chắp tay sau lưng.
– Ba tháng. – Ông nói, không quay lại. – Tập cho đủ mười.
— Hết chương 35 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe