Chương 19: Hai bên bức tường
Bốn giờ rưỡi sáng Thứ Hai, ông nội ngồi trên cái ghế đẩu cao ở gian trước, hai dùi trống đặt ngang trên đùi, và không đánh.
Tiệp biết ông ngồi đó từ lâu, vì cô cũng thức từ lâu. Cả đêm cô nằm trên giường xếp dưới gác phơi, nghe tiếng quạt trần kẽo kẹt, nghe tiếng ba trở mình trong buồng, nghe tiếng má thở dài. Mỗi lần nhắm mắt lại là thấy một cái gương xoay xoay trên không như đồng xu. Tới bốn giờ, cô nghe cửa buồng ông nội mở. Tiếng dép lẹp xẹp. Tiếng ghế đẩu kéo trên nền gạch bông. Rồi im.
Cô ngồi dậy, đi ra.
Ông nội không quay lại. Cái trống con trên giá vách, mặt da màu mật ong, nằm im trước mặt ông. Ngoài hẻm còn tối, đèn đường dưới gốc sung vàng vọt, mấy con muỗi bay vòng vòng quanh bóng đèn.
– Nội.
– Ờ.
– Tối qua nội nói "không phải nó buông".
Ông nội không trả lời. Ông nhấc một cây dùi lên, xoay xoay giữa mấy ngón tay, rồi đặt xuống.
– Không phải nó buông là sao nội?
– Tao nói vậy thôi.
– Nội không bao giờ nói "vậy thôi". – Tiệp nói. – Mười lăm năm nội không nói câu nào về đêm đó. Tối qua nội nói một câu. Nội không nói vậy thôi được.
Ông nội quay lại. Dưới ánh đèn tuýp mới bật, mặt ông xám như tro bếp, hai con mắt sâu hõm, và Tiệp biết ông cũng không ngủ.
– Con Tiệp. – Ông nói. – Tao hứa với hai người.
Cô đứng im.
– Một người chết rồi. – Ông nói. – Một người còn sống. Người chết thì tao không hỏi lại được. Người còn sống chưa cho tao nói.
– Người còn sống là ai?
Ông nội nhìn cô một hồi. Rồi ông không nói gì, chỉ đưa mắt nhìn qua vai cô, về phía cửa buồng ba má, cánh cửa gỗ mỏng còn đóng.
Rồi ông cầm hai dùi trống lên, gõ một cái lên mặt trống con. Tùng. Một tiếng duy nhất, nhỏ, như người ta gõ cửa.
– Đi nấu hồ đi. – Ông nói. – Trời sáng rồi.
Trời chưa sáng. Nhưng Tiệp đi nấu hồ.
Cả tuần đó, nhà số 47 sống như người ta đi trên sàn gác mục, bước nào cũng nhẹ, bước nào cũng nghe chừng.
Ba cô ngồi ở bàn làm việc từ sáng tới tối, cúi xuống mấy cái vành gương đồng, gõ, khắc, đánh bóng. Ông làm nhiều hơn mọi khi, nhiều tới mức má phải nhắc ông ăn cơm. Cái gương nứt thì ông không để trên bàn. Ông bọc nó trong một miếng vải nhung đỏ, cất trong ngăn kéo bàn, ngăn kéo có khóa. Tiệp hỏi. Ba nói:
– Ba giữ ít bữa.
– Rồi trả cho người ta hả ba?
– Ba giữ ít bữa. – Ông nói lại, y chang, như người ta đọc lại một dòng đã viết sẵn.
Sáng Thứ Ba, cô bồi xong một cái đầu lân trắng cho đơn khai trương mùng Mười tháng Ba, đem lên gác phơi. Cô đứng trên gác, nhìn xuống bàn ba.
– Ba coi giùm con cái màu nền này nè. Trắng ngà hay trắng xanh?
Ba không ngẩng lên.
– Đem xuống đây ba coi.
– Có một chút xíu, ba ngó lên là thấy mà.
– Đem xuống. – Ba nói. – Ba ngửa cổ mỏi.
Tiệp ôm cái đầu lân ướt hồ đi xuống cầu thang. Tới bậc thứ ba, cô đứng lại. Cô nghĩ. Mười lăm năm nay, cái gác phơi này là chỗ cô làm việc nhiều nhất trong nhà, và cô không nhớ nổi một lần nào ba cô ngồi dưới ngửa cổ lên coi cái đầu lân cô đang phơi. Lần nào cũng là "đem xuống ba coi". Cô cứ tưởng tại cái xe lăn thấp, tại ba lười, tại ba thương con nên bày chuyện cho con đi xuống đi lên cho khỏe chân. Cô chưa bao giờ nghĩ thêm.
Đêm giao thừa năm nào cũng vậy, cả nhà đứng ngoài cửa coi pháo hoa phía trung tâm thành phố. Ba ngồi xe lăn, nhìn xuống hẻm, nhìn bàn thờ trời, nhìn con nít chạy. Ba không coi pháo hoa.
– Con đứng đó làm gì? – Ba hỏi.
– Dạ không có gì.
Cô đem cái đầu lân tới. Ba coi, nói trắng ngà. Cô đem nó lên gác lại. Lần này cô không dừng ở bậc thứ ba.
Chiều Thứ Tư, Tiệp qua xưởng số 52 lấy lại cái bàn của mình.
Cô chọn giờ Xán đi giao cọc, giờ mà ngày nào thằng Mập cũng đứng ở cửa xưởng chờ xe tải về. Nhưng hôm đó xe tải về sớm. Lúc cô đang lôi cái thau hồ khô cứng xuống khỏi bàn, cửa cuốn kéo lên hết, và anh đứng đó, áo thun xám, tay cầm cuộn dây đai.
Hai người nhìn nhau.
Đây là lần đầu từ sáng Chủ nhật. Ba ngày. Ba ngày cô không qua, anh không qua. Sáng nào anh cũng ăn hủ tiếu ở xe má cô, nhưng ăn xong là đi, không ngồi lại bậc cửa như mọi khi.
– Tui lấy cái bàn về. – Cô nói.
Anh nhìn cái bàn. Nhìn thau hồ. Nhìn mấy cây cọ cắm trong ống bơ.
– Ừ. – Anh nói.
Cô cúi xuống, nắm hai chân bàn, kéo. Cái bàn gỗ dài hai mét, gỗ dầu, nặng như cái quan tài. Cô kéo được một tấc.
– Tui khiêng được không? – Anh hỏi.
– Không.
Anh đứng yên. Anh không bước tới. Tiệp kéo thêm một tấc nữa, nghe hai chân bàn rít trên nền xi măng sạch bóng của anh, để lại hai vệt trắng. Cô biết anh thấy hai vệt đó. Cô biết với một người vẽ viền sơn trắng cho từng cây cờ lê, hai vệt đó giống như hai vết cào trên mặt.
Anh vẫn đứng yên.
Rồi thằng Lò Xo với thằng Mập từ trên xe tải nhảy xuống, nhìn thấy, chạy tới, mỗi đứa nắm một đầu bàn.
– Chị Tiệp để tụi em. – Lò Xo nói. – Tụi em đâu có phải anh Xán. Chị đâu có cấm tụi em.
Tiệp không cãi được câu đó. Cái bàn đi qua ba mét hẻm trên vai hai thằng nhỏ, nhẹ như không.
Lúc cô quay lại lấy thau hồ, anh đã để sẵn nó ở bậc cửa, cùng với ống bơ cắm cọ và cuộn giấy bản.
Còn cái đầu lân trắng của Bạch Hạc, sáng Thứ Hai cô đã đặt trả trước cửa cuốn lúc năm giờ, không gõ cửa. Bây giờ nó nằm trên cái giá sắt ngay trong cửa cuốn, trán trống trơn một lỗ tròn, xoay mặt ra hẻm, xoay về phía nhà số 47.
– Cái này để đây chi vậy? – Cô hỏi.
– Phơi.
– Có gì đâu mà phơi?
– Thì để đó.
– Lân không có gương thì không ra đường. – Cô nói. – Anh làm nghề mà không biết hả?
– Biết. – Anh nói. – Nên tui không cho nó ra đường. Tui để nó ở cửa.
Cô ôm thau hồ về. Tới bậc cửa nhà mình, cô mới nhớ ra là trong suốt cuộc nói chuyện, không ai nhắc tới cái gương, không ai nhắc tới cái kho, không ai nhắc tới câu cô hỏi trước tám con lân.
Cô cũng nhớ ra là cô chưa rút lại câu "nhà anh với cái cọc của anh".
Sáng Chủ nhật, mười một tháng Tư, Tiệp không đi lớp lân sáng Chủ nhật.
Thằng Đạt thì đi. Nó chống nạng, cổ chân phải còn quấn băng ép, lò cò ra tới cổng sân bà Mười từ sáu giờ rưỡi. Nó nói với má là nó không lên cọc, nó chỉ đứng coi tụi nhỏ, làm trợ giảng cho anh Lò Xo. Má cho đi. Má không nói thêm câu nào. Từ tối Chủ nhật trước, má nói rất ít. Sáng nào Xán tới xe hủ tiếu, má vẫn múc tô cho anh rồi quay đi rửa tô, như hồi chưa có chuyện cái gương, chỉ là quay chậm hơn.
Tiệp ngồi ở bàn làm việc, cái bàn mới khiêng về, kê lại đúng chỗ cũ, vẽ mắt cho cái đầu lân trắng ngà. Qua cửa sổ, qua ba mét hẻm, cô nghe tiếng trống tập từ sân bà Mười vọng về. Đánh nhỏ, đều. Không phải anh Hai Cò. Tay trống non hơn, chỗ hụt không ra hụt. Cô đoán là Lò Xo.
Cô vẽ sai một nét. Cô bôi đi, vẽ lại.
Chín giờ, có tiếng gõ cửa. Không phải gõ. Đập. Hai bàn tay nhỏ đập lên cánh cửa gỗ, bộp bộp bộp.
– Cô Tiệp! Cô Tiệp ơi!
Bé Su đứng ở cửa, chín tuổi, tóc cột hai chùm, mặt đỏ gay, hai tay ôm cái đầu lân cam. Cái đầu lân cô với Xán làm năm đêm trong tháng Ba, bồi ba lớp rưỡi, mắt tròn, vì bé Su chê mắt phượng dữ.
Con mắt bên trái của nó bị tróc sơn một mảng.
– Thằng Cu Lì nó làm rớt! – Bé Su nói, mắt rưng rưng. – Nó đội không có chịu đội, nó cứ quay vòng vòng, rồi nó làm rớt! Đụng cái cọc! Chú Xán nói chú không biết vẽ mắt. Chú nói cô biết.
– Chú Xán nói vậy hả?
– Dạ. Chú nói cô vẽ mắt đẹp nhất Sài Gòn.
Tiệp ngồi xổm xuống, cầm cái đầu lân cam lên, xoay dưới ánh sáng cửa sổ. Tróc một mảng cỡ đồng xu, ngay đuôi mắt. Không có gì khó. Pha màu, dặm lại, mười lăm phút là xong.
– Con ngồi đó chờ cô.
Bé Su ngồi lên cái ghế đẩu của ông nội, hai chân đong đưa không chạm đất. Nó nhìn quanh gian trước, nhìn mấy cái đầu lân trên gác, nhìn mấy cái vành gương trên bàn ba, rồi nói, như người ta kể một chuyện quan trọng:
– Cô Tiệp. Con lân trắng của chú Xán bị mất con mắt thứ ba rồi.
Tiệp đang pha màu, dừng cọ.
– Con mắt thứ ba?
– Cái con mắt tròn tròn trên trán á cô. Chú Lò Xo nói đó là cái gương, mà tụi con gọi là con mắt thứ ba. – Bé Su nói. – Bây giờ nó bị lủng. Chú Xán để nó ở cửa xưởng, quay ra đường. Con hỏi sao chú không gắn con mắt mới. Chú nói chỗ đó có chủ rồi.
Tiệp không nói gì. Cô dặm màu lên đuôi mắt con lân cam, từng nét một, chậm như đếm.
– Chủ là ai vậy cô?
– Cô không biết.
– Chú Xán cũng nói chú không biết. – Bé Su gật gù. – Mà chú nói chú chờ.
Mười lăm phút sau, bé Su ôm con lân cam chạy về sân bà Mười, cái mắt trái mới dặm còn ướt, bóng lên dưới nắng như mắt người mới khóc xong. Tiệp đứng ở cửa nhìn theo. Rồi cô nhìn qua bên kia hẻm.
Cái đầu lân trắng nằm trên giá sắt trong cửa cuốn, xoay mặt về phía cô. Hai con mắt bạc, cái miệng há, và giữa trán là một lỗ tròn trống trơn, đen như cái giếng.
Đêm đó, Tiệp không ngủ được, đêm thứ tám liên tiếp.
Gần mười hai giờ, cô đang nằm nhìn lên gác thì nghe tiếng cửa buồng ông nội mở, rồi tiếng cửa buồng ba má mở. Tiếng bánh xe lăn kêu "két", một vòng. Rồi tiếng ông nội nói, nhỏ, nhưng nhà ống hẹp, vách mỏng, đêm thì im:
– Mày ra đây.
Tiếng bánh xe két thêm hai vòng nữa. Rồi dừng, ở chỗ bếp, chỗ cách giường xếp của cô một bức vách lá.
Tiệp nằm im. Cô không cố nghe. Cô chỉ không bịt tai.
– Mày để con nhỏ nghĩ thằng Thiện buông tay mày, – ông nội nói, – tới chừng nào?
Im lặng. Lâu. Cô nghe tiếng nước nhỏ giọt trong lu.
– Tới khi con nói được, ba. – Giọng ba cô. Nhỏ, khàn, như người bị cảm.
– Mày nói được hồi nào? – Ông nội nói. – Mười lăm năm rồi. Thằng Thiện nằm dưới đất sáu năm rồi. Thằng con nó nuôi cái gương của mày mười lăm năm. Bây giờ con nhỏ nhà mình đứng trong kho người ta, hỏi thằng con người ta có phải ba nó buông tay ba mình không. Mày nghe chưa? Tao nghe. Tao đứng sau cửa tao nghe con nhỏ kể lại.
– Con nghe.
– Rồi mày làm gì?
Ba không trả lời.
– Mày lắc đầu với tao. – Ông nội nói. – Tối Chủ nhật tuần trước, mày lắc đầu với tao. Tao tám mươi tuổi rồi, Lực. Tao không lắc đầu được với thằng Thiện nữa. Lần sau tao gặp nó là ở dưới đó.
– Ba.
– Tao chờ mày một lần nữa. – Ông nội nói. – Một lần nữa thôi.
Tiếng dép lẹp xẹp về buồng. Cửa buồng đóng.
Tiếng bánh xe lăn không kêu. Ba cô ngồi lại một mình trong bếp tối. Tiệp nằm bên này vách lá, nghe ba thở. Hơi thở của ba đứt quãng, như người ta đi lên dốc.
Cô không biết ba ngồi đó bao lâu. Cô chỉ biết là tới khi cô thiếp đi được, cái bánh xe lăn vẫn chưa kêu.
Và cô biết thêm một điều, nằm cứng trong ngực như cái nan tre gãy: người còn sống mà ông nội chờ, không phải ai ở xưởng số 52.
Là ba cô.
— Hết chương 19 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe