Chương 13: Ông kỹ sư và ông thợ bồi
Cái xe lăn của ba cô có một bánh kêu, bánh bên trái, kêu "két" mỗi vòng quay, và Tiệp đếm được bốn tiếng két từ cửa nhà số 47 tới chân bậc thềm xưởng số 52.
Bốn vòng bánh xe. Ba mét hẻm, đi xéo. Mười lăm năm.
Chín giờ sáng Thứ Bảy, hai mươi hai tháng Giêng. Xán đã kéo cửa cuốn lên hết, không phải một nửa như mọi ngày. Anh đã dọn một lối đi rộng giữa xưởng, kê hai tấm ván gỗ lên bậc thềm cửa làm dốc cho xe lăn. Hai tấm ván mới bào, còn thơm mùi gỗ dầu, mép được mài tròn.
– Cậu làm hồi nào? – Ba cô hỏi, nhìn hai tấm ván.
– Dạ tối qua chú.
– Có hai bậc thềm mà cậu bào ván.
– Dạ ván không bào thì dằm đâm bánh xe chú.
Ba cô gật gù, như người thợ nhìn thấy một đường cưa thẳng.
Tiệp đẩy xe lên dốc. Bánh xe kêu "két" thêm một tiếng, tiếng thứ năm, rồi lăn vô nền xi măng sạch bóng của xưởng.
Ba cô nhìn quanh. Tiệp thấy mắt ông dừng ở tấm bảng gỗ treo cờ lê, có viền sơn trắng. Ông nhìn nó lâu. Rồi ông cười, cái cười mà cô ít khi thấy, cái cười tới tận mắt.
– Ba cậu dạy cậu vẽ viền đồ nghề hả?
Xán đang kéo một cây cọc ra giữa xưởng, khựng lại.
– Dạ. Sao chú biết?
– Thợ hàn đời cũ mới làm vậy. – Ba cô nói. – Bây giờ ai còn vẽ.
Giữa xưởng, Xán đã dựng sẵn một cây cọc. Không phải cọc thấp cho con nít. Cọc thi đấu: ống thép phi chín mươi, cao hai mét hai, mặt cọc tròn bọc cao su đen, đế ba chân xòe ra như chân con nhện. Mỗi chân có một tấm đệm cao su và một cái lỗ để bắt bu lông xuống sàn. Dưới chân cọc trải tấm thảm xốp dày hai tấc.
Ba cô nhìn cây cọc. Ông nhìn từ chân lên đầu, rồi từ đầu xuống chân, chậm, như người ta đọc một bức thư dài.
– Đẩy ba lại gần. – Ông nói.
Tiệp đẩy. Tới sát chân cọc. Ba cô với tay vô cái túi vải treo trên thành xe lăn, lấy ra cây búa con, cái búa ông dùng gõ đục khắc vành gương. Đầu búa bằng đồng, cán gỗ đã mòn láng theo tay ông.
Ông gõ một cái lên chỗ mối hàn giữa chân đế và thân cọc.
Coong.
Ông nghiêng đầu nghe. Rồi gõ chỗ khác. Coong. Rồi chỗ khác nữa. Coong. Mỗi chỗ gõ, ông nghe, có chỗ ông gõ hai lần, có chỗ ông áp lòng bàn tay lên sau khi gõ, như bác sĩ nghe tim.
Xán đứng im bên cạnh, hai tay sau lưng. Tiệp đứng sau xe lăn. Cả cái xưởng chỉ có tiếng búa đồng và tiếng quạt máy quay chậm ở góc.
– Chân này. – Ba cô nói, gõ lên chân đế thứ ba. – Mối này hàn sau mấy mối kia.
Xán nhìn chỗ ông chỉ.
– Dạ. Chân đó con hàn lại hồi tháng Mười. Mối cũ bị nứt chân chim.
– Hàn lại già lửa một chút. – Ba cô nói. – Nghe tiếng nó đục hơn. Không sao, chịu được. Nhưng lần sau cậu để que hàn nguội hơn một chút.
– Dạ.
Ba cô gõ tiếp. Ông gõ hết ba chân đế, gõ thân cọc từ dưới lên tới chỗ tay ông với tới được. Rồi ông ngẩng lên nhìn cái mặt cọc tròn trên cao.
– Mặt cọc bao nhiêu?
– Dạ đường kính ba mươi phân. Bọc cao su dày một phân rưỡi. Có rãnh chống trượt.
– Hồi xưa mặt cọc hai mươi lăm. – Ba cô nói. – Không bọc gì hết. Sắt trơn. Mùa mưa phải rải cát lên.
– Dạ con biết. Ba con kể.
– Chân đế hồi xưa không có ba chân. Một cái đế tròn đổ xi măng. Dời đi dời lại nặng muốn gãy lưng.
– Dạ. Ba con nói hồi đó ba con phải khiêng với một người nữa mới nổi.
– Ờ. – Ba cô nói. Ông im một chút. – Ờ. Khiêng hai người.
Tiệp đứng sau, nghe hai người đàn ông nói chuyện về cọc. Cô chưa bao giờ nghe ba nói nhiều như vậy về cọc. Mười lăm năm, trong nhà cô, cọc là một chữ không ai nói. Vậy mà sáng nay ba ngồi giữa xưởng nhà người ta, búa đồng trong tay, nói về mặt cọc hai mươi lăm phân và đế xi măng như nói về món ăn hồi nhỏ.
– Cậu cho con tôi lên cao nhất bao nhiêu? – Ba cô hỏi.
– Dạ một mét sáu. – Xán nói. – Đạt đứng một mét sáu được ba tuần. Con chưa cho lên cao hơn.
– Tại sao?
– Dạ Đạt đứng vững, nhưng lúc chuyển cọc nó nhìn xuống chân. Nhìn xuống chân thì đầu đi trước, trọng tâm lệch. Khi nào nó chuyển cọc mà mắt không rời đầu lân phía trước thì con cho lên.
Ba cô gật đầu, chậm.
– Đúng. – Ông nói. – Hồi xưa ông nội nó cũng nói vậy với tôi. Đứng trên cọc mà nhìn xuống chân là té.
Ông để cây búa đồng lên đùi. Rồi ông ngẩng lên nhìn Xán, nhìn thẳng, lần đầu tiên từ lúc vô xưởng.
– Cậu học hàn với ai?
– Dạ ba con.
Ba cô không hỏi tiếp. Ông nhìn cái mối hàn trước mặt một hồi, rồi nói một chữ, nhỏ, như nói với cây cọc:
– Thiện.
Xán ngừng một nhịp. Ngắn thôi, ngắn tới mức Tiệp không chắc mình có thấy. Rồi anh nói:
– Dạ. Ba con là Tiêu Chí Thiện.
Tiệp đứng sau xe lăn, nghe cái tên đó lần đầu tiên. Cô biết Bạch Hạc Đường là đoàn của ba anh, cả hẻm biết. Nhưng mười lăm năm, trong nhà cô, chưa ai gọi cái tên người lập ra Bạch Hạc. Ông nội gọi "người ta". Má gọi "nhà đó". Vậy mà ba cô vừa gọi tên ông ấy, trơn, như gọi một người quen cũ.
Rồi ba cô ngồi im.
Không phải im như người ta nghĩ ngợi. Mà im như cái quạt máy bị rút điện, cánh quạt quay thêm mấy vòng theo đà rồi đứng hẳn. Tay ông đặt trên cây búa đồng trên đùi. Tiệp thấy mấy ngón tay đó co lại, rồi duỗi ra, rồi co lại.
Rồi ông nói, rất nhỏ:
– Ba cậu hàn mối nào cũng đều như vầy.
Không phải câu hỏi.
– Dạ. – Xán nói. Giọng anh cũng nhỏ đi. – Ba con cũng hay nói chú làm vành gương đều tay nhất Sài Gòn.
Ba cô không trả lời. Ông quay mặt nhìn ra cửa xưởng, nhìn qua ba mét hẻm về phía nhà mình, như người ta nhìn đường về khi trời sắp mưa.
– Tiệp. – Ông nói. – Đẩy ba về.
– Ba?
– Ba mệt. Đẩy ba về.
Tiệp quay xe. Bánh xe bên trái kêu "két". Cô đẩy xuống hai tấm ván dốc, ra hẻm. Tới giữa hẻm, cô cúi xuống nhìn ba. Hai tay ba đặt trên đùi, cầm cây búa đồng, và hai bàn tay đó đang run. Không phải run vì lạnh. Sáng Thứ Bảy tháng Hai ở Sài Gòn, ba mươi mốt độ.
Cô đẩy ba vô nhà. Ba nói muốn nằm. Cô đỡ ba lên giường. Ba quay mặt vô vách.
Tiệp đứng ở cửa buồng ba má một lúc. Rồi cô đi ra, đứng giữa gian trước. Rồi cô đi qua hẻm lần nữa.
Xán vẫn đứng giữa xưởng, cạnh cây cọc hai mét hai, chưa dọn cái gì.
– Anh biết ba tui hả? – Cô hỏi.
Anh nhìn cô. Rồi anh nói:
– Ba tui với ba cô, hồi trẻ có đi múa chung mấy lần. Hai đoàn. Hội chợ, lễ hội.
– Rồi sao ba tui nhắc tên ba anh mà như vậy?
Anh im. Cô thấy anh lại chọn chữ, như chọn cờ lê.
– Tui không biết chú Lực nghĩ gì. – Anh nói. Và Tiệp nghe ra câu đó đúng, mà chưa đủ. Anh không nói dối. Anh chỉ không nói hết.
Cô đứng nhìn anh. Cô định hỏi tiếp. "Người làm đuôi bữa đó…" Câu của má hôm Chủ nhật vẫn còn treo lơ lửng trong đầu cô như cái lộc treo trên cây sào tre. Nhưng ba đã nói "đừng hỏi bữa nay". Và cô nhìn mặt anh, cái mặt của người đang cầm một món đồ không phải của mình, cô thấy hỏi bây giờ thì anh sẽ phải chọn giữa nói dối cô và nói thay người khác.
Cô không hỏi.
– Thằng Đạt. – Cô nói, đổi chuyện. – Tui cho nó học tiếp.
Anh ngẩng lên.
– Có điều kiện. – Cô nói tiếp. – Một, có thảm. Hai, buổi nào nó lên cọc thì tui phải có mặt. Ba, không lên quá một mét sáu cho tới khi anh nói nó chuyển cọc mà không nhìn chân.
– Ba điều kiện. – Anh nói.
– Ba điều kiện.
– Cô không viết lên khăn giấy hả?
Cô nhìn anh. Anh không cười, nhưng ở đuôi mắt anh có một cái gì đó rất nhỏ.
– Viết. – Cô nói. – Anh có khăn giấy không?
Anh đi lại bàn làm việc, lấy ra một cuộn giấy lau tay loại dày, xé một tờ, đưa cô với cây bút bi. Cô viết ba dòng, chữ to, đè mạnh. Anh ký bên dưới. Cô ký. Anh gấp tờ giấy lại, bỏ vô cái hộp thiếc trên bàn làm việc. Tiệp thấy trong hộp đã có hai tờ khăn giấy mỏng như cánh chuồn, nét chữ cô với nét chữ anh, dính vệt cà phê.
Anh giữ cả hai tờ của quán cà phê vợt. Cô tưởng anh vò bỏ rồi.
– Cái khung nhôm nhỏ, – cô nói, mắt không rời cái hộp thiếc. – Có mười hai cái tên.
– Ừ.
– Tui trả lại hôm Chủ nhật. Tui làm rớt.
– Tui lượm rồi. Không móp.
– Tui… – Cô ngừng. Câu này khó hơn cô tưởng. – Bữa anh để cái khung trước cửa nhà tui, tui nói ba anh dặn mua để đo. Câu đó tui nói sai.
Anh không trả lời. Cô ngẩng lên. Anh đang nhìn cô, mặt bình thường, nhưng hai bàn tay anh buông thõng hai bên, không làm gì, như người ta để yên tay khi sợ làm rơi thứ gì.
– Tám con lân, – cô nói, – tui vẫn chưa hiểu. Nhưng tui không nghĩ anh mua để đo nữa.
– Vậy cô nghĩ tui mua để làm gì?
– Tui không biết. – Cô nói thật. – Tui chờ anh nói.
Anh gật đầu, chậm. Anh không nói. Nhưng lần này Tiệp không thấy giận vì anh không nói. Cô thấy giống như anh đang để dành câu trả lời trong cái hộp thiếc, chung với mấy tờ khăn giấy.
Tối đó, Tiệp thức khuya vẽ mặt cho một cái đầu lân đơn khai trương. Mười một giờ, cô mở cửa sổ gác lửng cho bay mùi sơn.
Dưới hẻm, đèn đường vàng vọt dưới gốc cây sung. Chiếc xe hơi trắng của Quan Bội Trân đậu ở đầu hẻm, đèn xe còn sáng. Trân đứng trước cửa cuốn xanh, không mặc áo sơ mi trắng sơ vin như mọi lần, mà mặc một cái áo khoác mỏng, tóc rối. Xán đứng trước mặt cô.
Tiệp không nghe được hai người nói gì. Cô chỉ thấy Trân nói một câu dài, tay đưa lên che mặt. Rồi vai Trân rung lên.
Rồi Trân bước tới một bước, và Xán đưa hai tay ra.
Trân úp mặt vô ngực anh. Hai tay anh vòng qua lưng cô gái, một tay vỗ nhè nhẹ lên vai, đều đều, như người ta dỗ con nít ngủ. Hai người đứng như vậy dưới vệt đèn vàng, giữa hẻm Cây Sung lúc mười một giờ đêm, rất lâu.
Tiệp đứng trên gác lửng, cây cọ trên tay nhỏ một giọt sơn đỏ xuống bệ cửa sổ. Cô không lau.
Cô đóng cửa sổ lại. Đóng nhẹ thôi. Nhưng cái chốt cửa sổ gỗ cũ kêu một tiếng "cạch" khô khốc, vang xuống hẻm, và qua khe cửa còn hở chưa tới một ngón tay, cô thấy Xán ngẩng đầu lên.
— Hết chương 13 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe