Chương 16: Ông nội đi lạc
Cái ghế đẩu của ông nội trống từ năm giờ sáng, và tới mười một giờ trưa Thứ Bảy, cả nhà số 47 mới hiểu là nó sẽ còn trống lâu.
Má là người phát hiện. Năm giờ rưỡi má dậy nấu nước lèo, thấy cửa buồng ông nội mở, giường xếp gọn, cái áo sơ mi trắng đi đánh cờ không còn trên móc. Má tưởng ông đi tập thể dục ở công viên đầu chợ như mấy ông già khác. Ông nội không bao giờ tập thể dục, nhưng tháng này lưng ông đau, bác sĩ Nghĩa dặn đi bộ, nên má nghĩ chắc ông nghe lời.
Bảy giờ, ông chưa về. Tám giờ, chưa về. Chín giờ, Tiệp chạy ra hội người cao tuổi đầu chợ. Mấy ông già đánh cờ nói sáng nay không thấy ông Bảy Thuận. Mười giờ, cô chạy một vòng chợ, ghé quán cà phê vợt bà Tư Lùn, ghé tiệm ông Tư Đờn. Không ai thấy.
Mười một giờ, cô đứng giữa gian trước, điện thoại trên tay, gọi số ông nội lần thứ mười bốn. Chuông reo trong buồng ông. Ông để điện thoại ở nhà, trên đầu giường, như mọi khi. Ông nói điện thoại là cái để người ta gọi mình, không phải để mình đem theo cho người ta gọi.
Ba cô ngồi trên xe lăn, mặt xám. Má đứng cạnh ba, tay nắm thành xe lăn tới trắng các đốt ngón. Thằng Đạt đi thi giữa kỳ từ bảy giờ, điện thoại tắt.
– Báo công an phường đi con. – Má nói. – Ông tám mươi tuổi! Lưng đau! Trời nắng ba mươi bốn độ!
– Dạ con chạy thêm một vòng, không thấy thì con lên phường liền.
Tiệp biết. Cô biết hết. Cô cầm chìa khóa xe, chạy ra cửa, định chạy thêm một vòng nữa, một vòng ra bến xe, ra mấy cái chùa ông hay đi, ra nghĩa trang chỗ bà nội nằm.
Ngay giữa hẻm, cô đụng một người.
Xán vừa dắt xe ra khỏi cửa xưởng. Năm ngày nay, kể từ đêm Rằm tháng Hai trên sân thượng, cô gặp anh mỗi sáng ở xe hủ tiếu, mỗi chiều ở sân bà Mười khi Đạt lên cọc. Anh chào cô. Cô chào lại. Không ai nói thêm. Cô đã cho anh "mấy ngày". Cô giữ lời. Anh chưa nói gì. Cô không hỏi.
– Ông Thuận đi đâu? – Anh hỏi. Anh nghe má cô la trong nhà.
– Không biết! Năm giờ sáng đi. Không đem điện thoại.
Anh đứng im một giây. Rồi anh nói:
– Thủ Dầu Một.
Tiệp khựng lại.
– Sao anh biết?
– Hôm qua thằng Đạt nói ở sân. Ông Thuận hỏi nó xe buýt lên Thủ Dầu Một đi số mấy. Nó tưởng ông hỏi chơi. Nó kể cho tui nghe như chuyện cười.
Tiệp nghe máu trong người mình chảy ngược.
Thủ Dầu Một. Hội chợ. Trăng mười ba tháng Tám. Con lân vàng in lên mặt trăng.
– Lên xe. – Xán nói. Anh đã đưa cô cái nón bảo hiểm. – Xe tui chạy nhanh hơn xe cô.
Một tiếng bốn mươi phút trên quốc lộ. Trưa tháng Ba, nắng đổ xuống mặt đường như nước sôi. Xe tải chạy hai bên, hơi nóng phả vô mặt. Tiệp ngồi sau lưng Xán, hai tay nắm chặt hai bên hông áo anh, không ôm, chỉ nắm. Cô không nói gì suốt quãng đường. Anh cũng không. Chỉ có một lần, ở ngã tư đèn đỏ dài, anh nói mà không quay lại:
– Sẽ tìm được.
– Sao anh chắc?
– Ông Thuận không đi lung tung. Ông đi một chỗ. Ông biết mình đi đâu.
Bãi hội chợ năm đó bây giờ không còn là bãi hội chợ. Người ta đã làm thành một công viên nhỏ, có lối đi lát đá, có mấy hàng cây sao đen. Có một sân bê tông rộng mà buổi tối người ta ra nhảy dây, tập thể dục, cho con nít chạy xe đạp. Trưa Thứ Bảy, nắng gắt, công viên vắng tanh. Chỉ có mấy người bán nước mía dưới gốc cây, một ông chạy xe ôm nằm ngủ trên yên xe.
Tiệp đi một vòng. Cô không nhận ra chỗ nào. Mười lăm năm. Cô mười hai tuổi. Cô chỉ nhớ đèn, cọc, trăng, và đám đông.
Xán đi trước cô. Anh đi thẳng, không nhìn quanh, như người biết đường. Anh đi tới góc phía đông của sân bê tông, nơi có một hàng ghế đá dưới gốc cây sao đen lớn nhất.
Ông nội ngồi trên băng ghế đá cuối cùng.
Ông mặc cái áo sơ mi trắng đi đánh cờ, ướt đẫm mồ hôi dính vô lưng. Tóc bạc bết trên trán. Ông ngồi rất thẳng, hai tay đặt trên đầu gối, mắt nhìn ra giữa sân bê tông trống trơn, như người ta ngồi coi một buổi biểu diễn mà chỉ mình mình thấy.
– Nội!
Tiệp chạy tới. Ông nội quay đầu lại. Ông nhìn cô, nhìn như không nhận ra, rồi ông nhìn qua vai cô, nhìn người đi sau.
Mặt ông thay đổi.
– Thiện. – Ông nói.
Xán đứng sững.
– Thiện. – Ông nội nói lần nữa, giọng khàn khàn, khô như giấy bản chưa bồi. – Mày tới hả. Tao chưa cảm ơn mày.
Tiệp quỳ xuống trước mặt ông, nắm hai bàn tay ông. Hai bàn tay nóng hổi, khô rang.
– Nội! Nội, con Tiệp nè!
Ông nội nhìn xuống cô. Ông chớp mắt mấy cái, chậm. Rồi như cái màn sương rút đi, ông nhìn rõ.
– Con Tiệp. – Ông nói. Rồi ông nhìn lên Xán lần nữa, lần này mắt ông tỉnh hẳn. – À. Thằng kỹ sư.
Xán đã chạy ra gốc cây mua nước mía. Anh quay lại với ba ly nước mía và một chai nước suối, mở nắp chai nước suối đưa cho ông nội. Ông nội cầm, uống một hơi hết nửa chai. Tiệp lấy khăn ướt trong túi lau mặt cho ông, lau cổ, lau hai cổ tay. Xán đứng che nắng, cái bóng anh đổ lên băng ghế đá.
Mười phút sau, ông nội uống hết chai nước, uống thêm nửa ly nước mía, rồi ngồi thở. Mặt ông bớt đỏ.
– Nội lên đây làm gì? – Tiệp hỏi. Giọng cô run, cô không giấu được nữa.
Ông nội không trả lời. Ông nhìn ra sân bê tông.
– Năm cây cọc. – Ông nói. – Dựng chỗ đó. Từ cái cột đèn tới cái gốc cây kia. Cây cao nhất ở giữa. Hai mét tám.
Tiệp nhìn theo tay ông chỉ. Giữa sân bê tông trống trơn, nắng trưa phản chiếu trắng xóa. Không có gì.
– Tao ngồi trống ở đây. – Ông nói. – Chỗ cái ghế này. Đúng chỗ này.
Ông đặt bàn tay lên mặt ghế đá, xoa nhẹ, như người ta xoa đầu một con chó già.
Rồi ông bắt đầu gõ. Ngón tay ông gõ lên mặt ghế đá. Tùng tùng tùng… tùng. Ba tiếng nhanh, một tiếng hụt. "Mưa rơi mái tôn." Không có trống, chỉ có tiếng móng tay khô gõ lên đá, nhỏ tới mức tiếng xe ngoài đường lấn mất.
Xán ngồi xuống băng ghế bên cạnh. Anh để ly nước mía xuống. Rồi anh đặt bàn tay mình lên mặt ghế đá, và gõ theo.
Tùng tùng tùng… tùng.
Đúng chỗ hụt.
Ông nội dừng tay. Ông quay qua nhìn bàn tay Xán trên mặt ghế đá. Ông nhìn lâu, lâu tới mức Tiệp tưởng ông sẽ đứng dậy bỏ đi.
– Thằng Thiện. – Ông nói. – Năm tám mươi chín, chín mươi. Tối nào nó cũng đứng ngoài vách nhà tao ở Chợ Lớn. Một năm trời.
Xán không nói gì.
– Tao biết. – Ông nội nói. – Ngay tối đầu tiên tao đã biết. Thằng nhỏ người Hoa ở xóm dưới, mười chín tuổi, ốm nhom, đứng dưới mái hiên nhà bên cạnh, giả bộ đợi xe. Tao đánh tới chỗ hụt, nó gật đầu theo. Tao biết.
– Ông biết mà ông không đuổi? – Xán hỏi, rất nhỏ.
– Đuổi chi. – Ông nội nói. – Tao không nhận học trò người ngoài. Nó không phải học trò. Nó đứng ngoài đường. Đường của nhà nước, đâu phải đường của tao.
Ông cười. Một tiếng cười khô, ngắn, nhưng là tiếng cười. Tiệp chưa nghe ông nội cười kiểu đó bao giờ.
– Có mấy đêm trời mưa, – ông nói, – tao đánh chậm lại cho nó nghe kịp.
Xán cúi đầu. Tiệp thấy vai anh rung lên một cái. Chỉ một cái.
Ông nội đứng dậy. Ông đứng hơi loạng choạng, Tiệp và Xán cùng đưa tay đỡ, mỗi người một bên. Ông không gạt tay ai ra.
– Về. – Ông nói.
Tiệp gọi xe qua ứng dụng gọi xe, một chiếc xe bảy chỗ có máy lạnh. Cô đỡ ông nội vô băng ghế sau, cài dây an toàn cho ông. Xán đứng ngoài cửa xe.
– Anh chạy xe về một mình. – Cô nói. – Cẩn thận.
– Ừ.
Ông nội ngồi trong xe, nhìn ra cửa kính, nhìn Xán. Rồi ông kéo cửa kính xuống.
– Thằng kỹ sư.
– Dạ.
– Bài trống đó. – Ông nội nói. – Mày đánh chỗ hụt trễ hơn tao một chút xíu. Thằng Thiện cũng vậy. Nó nghe qua vách, nghe trễ.
Ông kéo cửa kính lên. Xe chạy.
Tiệp ngồi cạnh ông nội suốt đường về. Ông ngủ gục trên vai cô sau mười phút, ngáy khe khẽ. Cô ngồi im, không dám nhúc nhích, nghe tiếng máy lạnh rì rì, nhìn ra quốc lộ nắng trắng, và nghĩ tới câu ông nói khi chưa tỉnh hẳn.
"Tao chưa cảm ơn mày."
Ông nội cảm ơn ông Thiện chuyện gì? Cảm ơn vì đứng ngoài vách nghe trộm bài trống của ông một năm trời? Không. Người ta không đi một tiếng bốn mươi phút trên quốc lộ giữa trưa nắng để cảm ơn chuyện đó.
Bảy giờ tối, ông nội tắm xong, ăn hết một chén cháo má nấu, rồi đi ngủ sớm. Ba cô ngồi ngoài cửa buồng ông rất lâu. Má dọn dẹp. Đạt thi về, nghe chuyện, ngồi bó gối dưới cầu thang, mặt tái mét, cứ lẩm bẩm "tại con, tại con không hỏi ông lên đó làm gì".
Chín giờ, Tiệp cầm cái nón bảo hiểm của Xán đi qua hẻm trả. Cô quên trả lúc chiều.
Cửa cuốn xanh kéo lên một nửa. Anh ngồi trên bậc cửa, như đêm giao thừa. Không ăn gì. Ngồi.
Cô đưa cái nón. Anh cầm, để xuống bên cạnh.
– Cảm ơn anh. – Cô nói. – Không có anh thì…
– Thằng Đạt nói. Tui nhớ. Vậy thôi.
– Không phải vậy thôi.
Cô đứng trước mặt anh. Anh ngồi trên bậc cửa, ngước lên. Đèn huỳnh quang trong xưởng chiếu ra sau lưng anh, mặt anh nằm trong bóng tối. Cô thấy anh mệt. Cô thấy mắt anh đỏ, như người đã khóc rồi rửa mặt.
– Ba anh, – cô nói, – đứng ngoài vách nhà nội tui một năm. Nội tui đánh chậm lại cho ba anh nghe.
– Ừ.
– Hai người đó… họ thân nhau hả?
Anh im một lúc.
– Tui không biết. – Anh nói. Và lần này cô nghe ra là anh không biết thật.
Cô ngồi xuống bậc cửa, cạnh anh. Không cách một khoảng bằng cái dĩa như đêm giao thừa. Gần hơn. Vai cô chạm vai anh.
Hai người ngồi đó. Hẻm Cây Sung đã ngủ. Cây sung đen thẫm. Trăng hai mươi tháng Hai lên muộn, chưa thấy đâu.
Anh quay qua nhìn cô. Cô quay qua nhìn anh. Mặt anh gần lắm. Cô ngửi thấy mùi nắng quốc lộ còn trên tóc anh, mùi nước mía, mùi sắt. Anh không nhích tới. Anh chỉ nhìn, như hỏi.
Cô nhích tới. Một chút.
– Con Tiệp!
Tiếng quạt mo đập lên cột điện, bộp bộp. Bà Mười Huê đứng dưới gốc sung, dép còn dính bùn, chắc mới đi đâu về.
– Con Tiệp! Ông nội mày kêu mày kìa! Kêu nãy giờ!
Tiệp bật dậy. Mặt cô nóng như hòn than. Xán ngồi yên trên bậc cửa, cúi đầu, nhìn hai bàn tay mình, và Tiệp thề là cô thấy vai anh rung, lần này không phải vì buồn.
Cô chạy về. Ông nội đứng ở cửa buồng, mặc bộ đồ ngủ sọc xanh, một tay chống lên khung cửa.
– Nội kêu con?
Ông nội nhìn cô. Nhìn mặt cô còn đỏ. Rồi ông nhìn ra cửa, qua ba mét hẻm, tới cái cửa cuốn xanh vẫn còn mở một nửa.
– Con Tiệp. – Ông nói. – Thằng đó mà thương con…
Ông ngừng.
– Dạ?
– Thằng đó mà thương con, – ông nói lại, chậm, – thì con phải biết một chuyện trước.
– Chuyện gì nội?
Ông nội nhìn cô rất lâu. Cô thấy môi ông mấp máy, như người ta đọc thầm một bài văn khấn, đọc tới chỗ quên.
Rồi ông lắc đầu.
– Không phải tao nói được. – Ông nói. – Đi ngủ đi.
Ông đóng cửa buồng.
— Hết chương 16 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe