Chương 25: Mất sân
Cả buổi sáng Chủ nhật, mười hai đứa con nít trong lớp lân sáng Chủ nhật đứng quanh cây me già trong sân bà Mười, và không đứa nào chịu đội đầu lân.
– Người ta lấy sân thiệt hả cô? – Bé Su hỏi, hai tay ôm cái đầu lân cam.
– Ừ. – Tiệp nói.
– Rồi cây me sao cô?
Tiệp nhìn lên cây me. Gốc to bằng cái lu, tán xòe ra che nửa sân, mấy chùm me non xanh lủng lẳng. Cô không biết người ta sẽ làm gì với cây me. Người ta mua đất để xây, mà xây thì thường không chừa cây.
– Cô không biết. – Cô nói.
Bé Su ôm cái đầu lân cam chặt hơn.
– Vậy tụi con múa ở đâu?
Thằng Cu Lì, mười một tuổi, bán vé số với bà nội ở đầu chợ, đứng dựa gốc me, nói như người lớn:
– Múa ngoài đường. Tao múa ngoài đường hoài.
– Ngoài đường bị phường bắt. – Tèo nói. – Ba tao nói hai đoàn lân bị lên phường rồi.
Cả mười hai đứa quay qua nhìn Tiệp. Cô đứng giữa vòng tụi nhỏ, cổ chân trái quấn băng thun dưới vớ, nhức âm ỉ, và không có câu nào để trả lời.
Xán đứng ở cổng sân, nghe hết. Anh không vô. Lát sau anh quay đi.
Từ Chủ nhật tới tối Thứ Hai, Tiệp đi tìm sân.
Cô chạy xe với cái cổ chân đau, đi khắp mấy phường quanh chợ. Nhà văn hóa phường thì chị Mận nói lịch kín, chỉ cho mượn hai buổi một tháng, buổi tối phải về trước chín giờ. Sân trường tiểu học đầu đường thì bác bảo vệ nói hiệu trưởng không cho, sợ tụi nhỏ ồn. Bãi giữ xe sau chợ thì ông chủ bãi đòi hai trăm ngàn một giờ, ban đêm, sau mười giờ khi xe đã về hết. Một cái nhà xưởng cũ cho thuê ở đường bờ kênh, rộng, mái cao, đẹp, chủ đòi mười hai triệu một tháng, đặt cọc sáu tháng.
Bảy mươi hai triệu. Tiệp đứng trước cửa cái nhà xưởng, tính nhẩm, rồi thôi tính.
Hộp thiếc tiền đoàn của Thuận Phong bây giờ có hai mươi chín triệu. Tiền nửa sau hợp đồng Bến Vàm, tiền thưởng chia đôi, trừ tiền sân, tiền giấy, tiền hồ, tiền thuê xe đi thi. Hai mươi chín triệu là số tiền lớn nhất cái hộp thiếc đó chứa trong mười lăm năm. Nó không đủ cho sáu tháng đặt cọc.
Tối Thứ Hai, ông nội không ăn cơm. Ông đi ra sân bà Mười một mình, ngồi dưới gốc me, trong bóng tối, không bật đèn. Tiệp đứng ở cổng sân nhìn vô. Ông ngồi đó, lưng thẳng, hai tay đặt trên đầu gối, như hồi ở công viên Thủ Dầu Một. Cô không vô. Cô biết có những chỗ ông muốn ngồi một mình.
Gần ba chục năm. Thuận Phong tập ở cái sân này từ hồi ông nội mới dọn về hẻm. Ba cô học đội đầu lân ở đây. Cô học vót nan ở đây, dưới cây me này, lúc tám tuổi.
Sáng Thứ Ba, ba mươi mốt tháng Tám, bà Mười gõ cửa nhà số 47 bằng quạt mo.
Bà đã cầm lại quạt mo. Mắt bà vẫn còn sưng, nhưng giọng thì chua như cũ.
– Con Tiệp. Ra đây bà nói.
Tiệp ra. Bà Mười kéo cô ra gốc sung, như cái tối tháng Giêng bà kéo cô ra nói chuyện nợ tiền sân. Bà nhìn qua bên kia hẻm, nhìn cái cửa cuốn xanh còn đóng.
– Thằng Xán, – bà nói, – nó dặn bà đừng nói với con. Mà bà già rồi, bà không giữ được miệng.
– Chuyện gì bà?
– Nó đặt cọc cái kho gạo cũ của ông Bảy Lò. – Bà Mười nói. – Ở hẻm kế bên, cái kho có cửa sắt lớn, hồi xưa ông Bảy chứa gạo, mười năm nay bỏ không. Nó thuê cho hai đoàn tập. Nó đặt cọc từ hôm qua. Bốn tháng.
Tiệp đứng im. Cô nghe trong đầu mình một tiếng gì đó, không phải tiếng nan tre gãy. Giống tiếng một cái nắp hộp bị bật ra.
– Nó dặn bà đừng nói? – Cô hỏi.
– Ờ. Nó nói để nó nói.
– Nó tính chừng nào nói?
Bà Mười nhìn cô bằng một con mắt, con mắt kia nheo lại.
– Bà đâu biết. Mà bà biết con. Con nghe xong là con chạy qua bển la. – Bà gõ quạt mo lên vai cô. – Đi đi. La nhỏ nhỏ thôi. Ông nội con đang ngủ.
Tiệp đi qua hẻm. Cô đi nhanh tới mức quên cái cổ chân, tới bậc cửa xưởng mới nhớ ra, nhăn mặt.
Cửa cuốn kéo lên một nửa. Cô cúi người chui vô.
Xán đang đứng ở bàn làm việc, cúi xuống một tờ giấy, cầm cây bút bi. Anh ngẩng lên, thấy cô, thấy mặt cô. Anh để cây bút xuống.
– Bà Mười nói rồi. – Anh nói. Không phải câu hỏi.
– Anh lại làm sau lưng tui!
– Tui định nói tối nay.
– Tối nay! – Cô đứng trước bàn anh, hai tay chống lên mặt bàn. – Anh mua đầu lân sau lưng tui ba năm. Anh dạy em tui lên cọc sau lưng tui ba tháng. Giờ anh thuê sân cho đoàn tui sau lưng tui. Anh không làm được cái gì trước mặt tui hả?
Anh đứng im. Anh không cãi. Anh chỉ đẩy tờ giấy trên bàn về phía cô.
Hợp đồng thuê kho. Bên cho thuê: Lê Văn Bảy. Thời hạn: một năm, từ ngày mười lăm tháng Chín. Giá thuê: bảy triệu một tháng. Đặt cọc: bốn tháng, hai mươi tám triệu đồng. Ở cuối trang, chữ ký của anh, nhỏ, nghiêng về phía trước như người đang đi gấp. Bên cạnh là một ô trống. Chưa có chữ ký của ông Bảy Lò.
– Ông Bảy chưa ký. – Anh nói. – Tiền cọc tui đưa hôm qua. Ông Bảy nói để ông hỏi con gái ông ở dưới miền Tây, tối nay ông ký. Tui chờ ông ký mới có cái để nói. Chưa ký mà tui qua nói với cô, rồi ông Bảy đổi ý, thì cô mừng hụt.
Tiệp nhìn ô trống trên tờ giấy. Cô không biết làm gì với cơn giận của mình, lần thứ hai trong đời, khi người ta có lý do đàng hoàng.
– Tui không muốn Thuận Phong ở nhờ Bạch Hạc. – Cô nói. Giọng cô nhỏ lại, nhưng còn cứng. – Thuận Phong năm mươi chín năm không ở nhờ ai.
– Không ở nhờ.
– Anh trả tiền cọc. Đó là ở nhờ.
Anh nhìn cô một hồi. Rồi anh quay lại, đi tới cái kệ nhỏ phía sau bàn làm việc, lấy xuống một cái hộp thiếc. Cái hộp thiếc đựng bánh quy cũ, nắp in hình mấy bông hoa đã tróc sơn. Tiệp biết cái hộp đó. Cô đã thấy nó hồi tháng Hai, cái hôm cô viết ba điều kiện cho thằng Đạt lên giấy lau tay.
Anh mở nắp, đặt hộp xuống bàn, trước mặt cô.
Trong hộp có hai tờ khăn giấy mỏng như cánh chuồn, dính vệt cà phê, gấp đôi. Một tờ giấy lau tay loại dày, gấp tư. Và dưới cùng, nằm phẳng dưới đáy hộp, một cái phong bì trắng.
Phong bì đó cô biết. Cô dán nó bằng keo hồ, lúc mười giờ đêm mùng Năm Tết, ngồi ở bàn làm việc nhà mình, nước mắt nhỏ xuống mép. Ở mặt trước, góc phải, có con số cô viết bằng bút bi, đè mạnh tới mức hằn qua mặt sau: "14.000.000".
Mép dán vẫn còn nguyên. Không ai bóc.
– Gần bảy tháng. – Tiệp nói. Giọng cô khàn đi. – Anh không bóc?
– Không phải tiền của tui. – Anh nói.
– Tui đưa anh mà!
– Cô đưa tiền con lân vàng. – Anh nói. – Con lân vàng chưa có gương. Chưa xong hàng. Tui chưa nhận.
Tiệp đứng nhìn cái phong bì. Cô không nói được gì.
– Cọc bốn tháng. – Xán nói, chậm, như đọc thông số. – Hai mươi tám triệu. Hai đoàn, mỗi đoàn mười bốn triệu. Phần của Bạch Hạc tui đóng hôm qua. Phần của Thuận Phong…
Anh đặt ngón tay lên cái phong bì.
– Cô đóng rồi. Hồi mùng Sáu Tết.
Tiệp cắn môi. Cô cắn mạnh, vì cô không muốn khóc trước mặt anh, trong xưởng anh, cạnh cái hộp thiếc có hai tờ khăn giấy và một tờ giấy lau tay cô viết. Cô cắn tới mức thấy vị tanh.
Không được. Nước mắt vẫn chảy.
Cô cúi đầu. Hai giọt nước mắt rơi xuống tờ hợp đồng, xuống đúng cái ô trống chưa có chữ ký của ông Bảy Lò, loang ra.
– Đó. – Cô nói, giọng nghẹt. – Ướt rồi. Ông Bảy ký không được nữa.
Cô nghe anh cười. Một tiếng cười ngắn, khàn, như người ta cười khi đang muốn làm cái gì khác mà không dám.
– Tui in tờ khác. – Anh nói.
Chiều Thứ Tư, ngày mùng một tháng Chín, hai đoàn lân dọn cái kho gạo cũ của ông Bảy Lò.
Ông Bảy Lò ký hợp đồng tối Thứ Ba, trên tờ giấy in lại. Tối đó ông qua tận nhà số 47 báo cho ông nội, đứng ở cửa nói chuyện mười phút, con chó vàng ngồi dưới chân. Ông nói ông thà cho hai đoàn lân thuê rẻ còn hơn cho người ta làm kho chứa hàng, vì mấy chục năm nay, mùng Một nào ông cũng đứng trước cửa chờ Thuận Phong múa.
Cái kho nằm cuối hẻm kế bên, cách sân bà Mười chừng năm mươi mét theo đường chim bay, phải vòng ra đầu hẻm rồi vô lại. Cửa sắt kéo lớn sơn xanh đã rỉ. Bên trong rộng chừng hai trăm sáu chục mét vuông, nền xi măng còn tốt, mái tôn cao gần sáu mét, đủ dựng cọc cao nhất. Mười năm bỏ không, bụi dày một lớp, mạng nhện giăng trên kèo như màn, mấy cái bao gạo cũ chồng ở góc đã mục.
Hai đoàn dọn. Thằng Mập với anh Ròm khiêng bao gạo mục ra. Lò Xo với Tí Sún quét mạng nhện bằng cây chổi cột cán dài. Chú Sáu Mỡ với anh Hai Cò ngồi ngoài cửa, chia nhau ổ bánh mì, chỉ đạo. Đạt leo lên thang thay mấy tấm tôn lủng. Dì Hảo nấu một nồi chè đậu xanh to bằng cái thau, đem qua bằng xe đẩy.
Tiệp leo lên cái thang thứ hai, lau mấy ô cửa sổ kính trên cao. Cô leo bằng chân phải trước. Mỗi bậc thang cô đặt chân trái xuống thật nhẹ, nhẹ như đặt cái cọ lên mắt lân.
Lúc cô xuống, có người đứng ở chân thang.
Không phải Xán. Xán đang ở góc kho bên kia, đo nền xi măng bằng thước dây, đánh dấu chỗ dựng cọc.
Ông nội.
Ông đứng đó, áo sơ mi trắng, chống tay vô lưng. Ông đi một vòng quanh kho từ lúc nào cô không biết. Ông gõ vách tôn, gõ cột sắt, ngước lên nhìn kèo mái. Bây giờ ông đứng ở chân cái thang cô vừa leo xuống, nhìn xuống chân cô.
Nhìn chân trái.
Cô đặt chân xuống đất, đứng thẳng, cố đứng cho đều.
– Nội.
Ông nội không nói gì. Ông nhìn cái chân trái của cô thêm một chút, rồi nhìn lên mặt cô. Cái nhìn đó Tiệp đã thấy một lần, sáng mùng Một, khi ông đứng ở cửa buồng nhìn cánh tay quấn băng của Xán.
Rồi ông quay đi. Ông đi qua cái kho, qua đám người đang dọn, tới góc bên kia, chỗ Xán đang ngồi chồm hổm đánh dấu nền.
Tiệp đứng ở chân thang, không nghe được ông nói gì. Cô chỉ thấy Xán đứng dậy, cúi đầu nghe. Ông nội nói ngắn, hai câu, có khi ba. Xán gật đầu.
Rồi ông nội đi ra cửa kho, không ngoái lại.
Tối đó, Tiệp hỏi Xán ông nội nói gì. Anh ngồi ở bậc cửa xưởng, lau cây thước dây.
– Ông kêu tui qua nhà uống trà. – Anh nói.
– Ông nội tui? Kêu anh? Qua nhà?
– Ừ. Tối Thứ Sáu.
Tiệp nhìn anh. Mười lăm năm nay, ông nội cô chưa mời một người họ Tiêu nào bước qua cửa nhà số 47. Mấy lần Xán vô nhà, lần nào cũng có chuyện kéo vô: đi theo Trân bàn hợp đồng, hay ôm cánh tay chảy máu. Chưa lần nào được mời.
– Ông có nói uống trà làm gì không?
Anh lau tiếp cây thước. Anh không nhìn cô.
– Không. – Anh nói.
Và Tiệp nghe ra là anh không nói dối. Nhưng cũng nghe ra là anh không nói hết.
— Hết chương 25 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe