Chương 18: Cái gương nứt
Ba cô tháo cái gương ra bằng một cây tua vít dẹp nhỏ như cây tăm, và ông làm việc đó mà không nhìn, như người ta cởi nút áo của chính mình trong bóng tối.
Bảy giờ sáng Chủ nhật. Cái đầu lân trắng của Bạch Hạc nằm ngửa trên bàn làm việc của ba, giữa cái ê-tô, cây búa đồng, mấy cái vành gương đang khắc dở. Tiệp đã sang xưởng số 52 lúc sáu giờ rưỡi, gõ cửa cuốn. Xán ra mở, mặt như không ngủ. Cô chỉ nói:
– Tui mượn cái đầu lân.
Anh không hỏi để làm gì. Anh vô trong, ôm cái đầu lân trắng ra, đưa cho cô bằng hai tay. Cô ôm nó qua ba mét hẻm. Anh đứng ở cửa xưởng nhìn theo, không đi theo.
Bây giờ ba cô ngồi trên xe lăn, hai tay ông cầm cái gương nứt vừa tháo ra khỏi trán con lân trắng. Ông lật mặt sau lên. Ông nhìn cái vành đồng, mặt trong, chỗ sát mép kính.
Má đứng sau lưng ba. Thằng Đạt ngồi dưới cầu thang, cổ chân phải quấn băng ép trắng, gác lên một cái ghế đẩu. Cửa buồng ông nội đóng.
Ba cô nhìn bông sen rất lâu.
Rồi ông đưa ngón tay cái lên, chạm vô cánh thứ năm, cái cánh lệch. Ông xoa lên nó, chậm, như người ta xoa vết sẹo cũ trên tay mình.
– Gương của ba. – Ông nói.
Không ai nói gì.
– Con lân vàng. – Ba nói tiếp, giọng bình thường tới mức lạ. – Ba làm năm hai ngàn lẻ chín. Cái vành này ba gõ ba đêm, vì đồng lá bữa đó mua phải loại dày. Cánh thứ năm ba khắc lệch, ba tính khắc lại, rồi ông nội con nói thôi, để vậy, lân có cái tật thì lân mới nhớ chủ.
Ông lật cái gương lại, nhìn đường nứt chéo trên mặt kính.
– Đêm đó nó văng ra. Ba nghe tiếng nó rớt. Ba nghe trước khi ba rớt. Rồi ba không nghe gì nữa.
Má đưa tay đặt lên vai ba. Ba không né.
– Con hỏi thằng kỹ sư đi. – Ba nói, mắt không rời cái gương. – Đừng hỏi ba. Ba nói không được.
– Ba…
– Ba xin con. – Ông nói. – Con hỏi nó. Nó thấy hết. Ba thì không.
Ông đặt cái gương vô tay Tiệp. Cái gương nặng hơn cô tưởng. Mặt kính lạnh. Vành đồng ấm, vì ba vừa cầm.
Tiệp đi qua hẻm. Lần này cô không đếm bước.
Cửa cuốn xanh kéo lên hết. Xán không đứng ở cửa. Cô đi vô, đi qua gian xưởng sạch bóng, qua tấm bảng cờ lê có viền sơn trắng, qua hai cái bàn kê sát nhau, cái bàn của cô vẫn còn đó, thau hồ nếp đã khô cứng. Cửa kho mở. Đèn kho sáng.
Anh đứng trong kho, trước cái kệ gỗ dài, trước tám con lân của cô. Anh đứng trước con lân vàng cuối hàng, con lân có cái trán thủng một lỗ tròn.
Cô đứng ở cửa kho. Anh quay lại. Anh nhìn cái gương trong tay cô.
– Chú Lực nhận ra. – Anh nói. Không phải câu hỏi.
– Ba tui nhận ra. – Cô nói. – Ba tui nói hỏi anh. Ba tui nói anh thấy hết.
Anh gật đầu, chậm. Anh nhìn xuống sàn kho một lúc, rồi ngẩng lên. Và lần này anh không chọn chữ. Tiệp thấy rõ điều đó. Anh không đứng trước tấm bảng cờ lê tìm cây vừa tay nữa. Anh chỉ nói.
– Năm đó tui mười lăm tuổi. – Anh nói. – Ba tui dắt tui lên Thủ Dầu Một coi múa. Ba tui nói đoàn Thuận Phong thiếu người làm đuôi cho tiết mục cọc, người đuôi của chú Lực bị sốt. Chú Lực gọi ba tui. Hai người quen nhau từ hồi đi hội chợ, hồi hai đoàn còn đi chung. Ba tui nhận lời liền. Năm cây cọc đó là cọc của ba tui, ba tui hàn, ba tui chở lên bằng xe tải. Tui đứng gần chỗ trống, cạnh anh Hai Cò. Cách ông Thuận chừng mười bước.
Tiệp nắm chặt cái gương.
– Tới đoạn cuối, – anh nói, – con lân vàng lên cây cọc cao nhất. Hai mét tám. Ba tui đứng trên mặt cọc, chú Lực đứng lên vai ba tui, ngửa đầu lân lên. Lúc đó trăng ở ngay sau lưng. Cô nói đúng. Cái đầu lân vàng in lên mặt trăng.
Anh ngừng. Hơi thở anh ngắn lại.
– Rồi tui thấy hai tay ba tui đổi chỗ. – Anh nói. – Ba tui đang giữ hông chú Lực. Rồi ba tui buông một tay ra khỏi hông, chụp xuống cổ chân chú. Tui không hiểu tại sao. Tui chỉ thấy vậy. Rồi con lân nghiêng. Rồi cái gương văng ra.
Tiệp không thở.
– Chú Lực rớt về phía bên trái. – Anh nói. – Ba tui vẫn còn nắm cổ chân chú. Ba tui bị kéo theo, nhưng ba tui chụp được thân cọc, treo trên đó. Chú Lực thì không.
Anh nhìn cô. Mắt anh đỏ, nhưng anh không khóc.
– Xe cứu thương tới. Người ta đem chú Lực đi. Ba tui đi theo xe. Ông Thuận đi theo xe. Cả sân hội chợ loạn lên. Tui đứng một mình dưới chân cọc. Cái gương nằm ngay đó, trên mặt đất, dưới đèn sân khấu, mặt kính nứt một đường. Tui lượm lên. Tui không biết tại sao tui lượm. Tui bỏ vô túi quần. Từ đó tới giờ tui không bỏ nó ra được.
Kho im phăng phắc. Tám con lân trên kệ nhìn xuống hai người.
– Sau đêm đó, – anh nói tiếp, – ba tui nói với mọi người: "Tại tôi đỡ hụt." Ba tui nói với ông Thuận, nói với cô Bông, nói với đoàn, nói với má tui. Ba tui nói với tui. Mười năm, cho tới năm ba tui mất, câu ba tui nói về đêm đó chỉ có vậy: "Ba đỡ hụt." Ba tui bỏ múa cọc hai năm. Rồi ba tui làm cọc lại, nhưng làm cọc có chân đế ba chân, có thảm, có mặt bọc cao su. Ba tui nói: "Ba đỡ hụt một lần. Cọc của ba thì không được để ai té nữa."
Anh đưa tay chỉ lên kệ, tám con lân.
– Năm hai mốt, ba tui đột quỵ. Nằm viện mười một ngày. Ngày thứ mười, ba tui nắm tay tui, nói: "Mua đầu lân của nhà họ Hứa. Đừng để họ biết." Tui hỏi tại sao. Ba tui nói: "Ba nợ nhà đó." Hôm sau ba tui mất.
– Rồi anh mua. – Tiệp nói. Giọng cô khàn tới mức cô không nhận ra.
– Tui mua. Ba năm. Tám con. – Anh nói. – Rồi tui dọn về đây. Tui không biết nhà đối diện là nhà cô khi tui ký hợp đồng thuê xưởng. Tui biết khi tui nghe ông Thuận đánh trống, đêm đầu tiên. Tui tính dọn đi. Tui ở lại.
– Tại sao ở lại?
Anh nhìn cô.
– Tại vì đêm thứ ba tui thấy cô ngồi vẽ mắt lân trên gác. – Anh nói. – Và tui nhận ra con lân cô đang vẽ là con số bốn tui vừa đặt.
Tiệp không biết mình đang đứng hay đang ngồi. Cô cảm thấy chân mình chạm đất, nhưng đất như mặt cọc trơn.
– Con lân vàng. – Anh chỉ con lân cuối hàng, cái trán thủng. – Tui đặt cô làm con lân vàng, để trống chỗ gương, vì tui muốn gắn cái gương này lên nó. Rồi đem qua trả cho chú Lực. Một con lân vàng mới, cái gương cũ. Tui tính mùng Sáu gửi cái gương qua ông Tư Đờn, nói là khách nhờ làm vành, để chú Lực tự nhận ra. Để chú quyết định nói với cô hay không. Tui hèn. Tui không dám tự đem qua.
– Rồi mùng Năm tui vô kho.
– Rồi mùng Năm cô vô kho.
Hai người đứng im. Ngoài xưởng, tiếng xe máy chạy ngang hẻm, tiếng ai đó gọi mua bánh mì. Ở trên lầu, tiếng dép nhựa của dì Hảo đứng yên trên cầu thang sắt, không lên không xuống.
– Hôm ở Thủ Dầu Một, – Tiệp nói chậm, – anh đi thẳng tới cái ghế đá. Không nhìn quanh. Như người biết đường.
– Tui biết đường. – Anh nói. – Mười lăm năm tui chưa quay lại đó. Nhưng tui biết đường.
– Đêm Rằm tháng Hai, trên sân thượng, tui kể đêm đó cho anh nghe. Tui hỏi anh có biết người làm đuôi là ai không. Anh nói anh cần hỏi má anh.
– Tui hỏi rồi. Má tui nói ba tui dặn chôn theo ba. Tui tính hôm qua chụp hình xong tui nói. Rồi thằng Đạt té.
– Rồi tui nói "nhà anh với cái cọc của anh".
Anh không trả lời.
Tiệp nhìn xuống cái gương trong tay. Đường nứt chéo. Bông sen ở mặt trong. Cái gương này đã nằm trong túi quần một thằng nhỏ mười lăm tuổi đêm hôm đó. Đã nằm trên trán con lân trắng mà cô chê "gương nứt mà cũng dám đội ra đường". Cô nhớ anh chạm ngón cái lên nó trước tiệm thuốc bắc. "Nó nứt lâu rồi. Không vô thêm được gì đâu."
Cô ngẩng lên.
– Ba anh. – Cô nói. Và cô nghe giọng mình nhỏ lại, nhỏ như tiếng một đứa con nít mười hai tuổi bị bịt mắt giữa đám đông. – Ba anh là người buông tay ba tui?
Xán đứng trước tám con lân, hai tay buông thõng hai bên. Lần đầu tiên từ ngày cô biết anh, cô thấy anh không có số liệu nào để trả lời.
– Ba tui nói ba tui đỡ hụt. – Anh nói. – Tui thấy ba tui buông một tay ra khỏi hông chú Lực. Đỡ hụt với buông tay, khác nhau chỗ nào, tui không biết. Mười lăm năm tui không biết.
Tiệp đứng nhìn anh. Cô chờ mình giận. Cô chờ cái cơn giận đã làm cô ném mười bốn triệu lên bàn, đã làm cô hét giữa hẻm, đã làm cô nói câu "nhà anh với cái cọc của anh". Cô chờ nó tới. Nó không tới. Thứ tới là một cái gì đó lạnh, rỗng, như cái trán con lân vàng thủng một lỗ tròn.
Cô quay lưng đi ra.
Anh không cản. Anh không gọi tên cô. Cô đi qua gian xưởng, qua cái bàn của mình còn thau hồ khô, qua cửa cuốn, qua ba mét hẻm. Cái gương nứt nằm trong tay cô, ép vô ngực.
Tối đó, nhà số 47 ăn cơm không ai ăn, lần thứ hai trong năm.
Tiệp kể. Cô kể hết những gì anh kể. Ông Thiện làm đuôi. Năm cây cọc của ông Thiện hàn. Hai tay đổi chỗ. Cổ chân. Cái gương. "Ba đỡ hụt." Tám con lân. Lời dặn trước khi mất.
Thằng Đạt ngồi dưới cầu thang, cổ chân quấn băng, mặt trắng bệch. Nó chưa bao giờ nghe tên người làm đuôi. Nó nhìn chị, rồi nhìn ra cửa, qua ba mét hẻm, tới cái cửa cuốn xanh mà mấy tháng nay tối nào nó cũng chui vô.
Má ngồi im. Má không ngạc nhiên. Má chỉ nói một câu, nhỏ:
– Giờ con biết rồi đó.
Ba cô ngồi trên xe lăn, cái gương nứt đặt trên đùi. Ông không nói gì suốt bữa cơm. Hai tay ông đặt lên mặt kính, che đường nứt.
Rồi cửa buồng ông nội mở.
Ông nội đứng ở khung cửa, mặc bộ đồ ngủ sọc xanh. Ông đã đứng đó bao lâu, Tiệp không biết. Có lẽ từ đầu. Có lẽ ông nghe hết, qua cánh cửa gỗ mỏng, như ông Thiện nghe trống qua vách nhà ông ba mươi bảy năm trước.
Ông nhìn cái gương trên đùi ba cô. Nhìn rất lâu. Rồi ông nhìn ba cô. Hai cha con nhìn nhau, và Tiệp thấy trong cái nhìn đó có một thứ gì giống như hai người đang cầm hai đầu một sợi dây đã căng mười lăm năm.
Ba cô lắc đầu, rất nhẹ.
Ông nội quay qua Tiệp. Ông nói một câu. Chỉ một câu. Giọng ông không khàn, không run, rõ như tiếng trống cái mặt da mới.
– Không phải nó buông.
Rồi ông quay vô, đóng cửa buồng.
— Hết chương 18 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe