Chương 36: Mùng Một, hai con lân
Năm nay tháng Chạp lại thiếu, không có ngày ba mươi, và đêm hai mươi chín, trên sân thượng xưởng số 52, có ba người đứng trước bàn thờ ông Thiện thay vì một.
Dì Hảo không xuống Chợ Lớn. Sáng hai mươi chín, dì đi ngang chào cả hẻm, mỗi nhà một câu chúc Tết sớm, như mọi năm. Nhưng tới chiều, dì không đón xe. Dì nói với Xán, đứng ở chân cầu thang sắt, tay cầm cái khăn mùi xoa:
– Năm nay má ở lại. Má khóc thì có người coi.
Tiệp đem lên một đòn bánh tét nguyên, má gói từ hôm hai mươi sáu, nhân đậu xanh mỡ hành. Không phải nửa đòn. Cô leo hai tầng cầu thang sắt bằng hai chân, cổ chân trái lành hẳn từ tháng Mười Hai. Lên tới sân thượng, cô đặt đòn bánh tét lên bàn thờ, cạnh dĩa bánh bò của dì Hảo, cạnh tấm hình người đàn ông cười rộng tới mang tai.
Mười hai giờ. Pháo hoa phía trung tâm thành phố nổ lụp bụp. Dì Hảo cầm ba cây nhang, khấn tên chồng, rồi khóc. Không khóc lớn. Khóc như mưa rơi trên mái tôn, đều, lâu. Xán đứng bên trái má, Tiệp đứng bên phải. Không ai bảo dì đừng khóc.
Lúc dì khóc xong, dì quay qua Tiệp, nắm tay cô.
– Năm nay ổng có người cúng đủ rồi. – Dì nói. – Ổng cười cho coi.
Tiệp nhìn tấm hình. Người trong hình vẫn cười như vậy, như mọi năm. Nhưng cô hiểu dì nói gì.
Một giờ sáng, cô đi xuống. Xán đưa cô xuống tới cửa cuốn. Hai người đứng ở bậc cửa xưởng một lúc, nhìn qua ba mét hẻm. Cửa nhà số 47 còn mở, đèn gian trước còn sáng. Ba ngồi ở bàn làm việc, cúi xuống cái gì đó.
– Ba em chưa ngủ. – Tiệp nói.
– Chú Lực làm gương. – Xán nói. – Từ tháng Mười tới giờ chưa xong.
– Ba nói sáng mai xong.
– Ừ.
– Anh coi chưa?
– Chưa. – Anh nói. – Chú không cho ai coi.
Cô nhìn anh. Rồi cô kiễng chân, hôn lên má anh một cái, nhanh, như người ta chấm son điểm nhãn.
– Năm mới. – Cô nói. – Đừng làm sừng lân mỏng một bên.
Anh đứng đó, cái mặt khô như ngói đỏ lên dưới đèn đường. Cô đi về, không quay lại, và cô nghe sau lưng tiếng anh cười.
Sáu giờ sáng mùng Một Tết Mậu Thân, ba gắn cái gương mới lên trán con lân vàng.
Cả nhà đứng quanh bàn làm việc. Ông nội, má, Đạt, Tiệp. Con lân vàng nằm ngửa trên bàn, mắt phượng, lông bờm vàng. Cái lỗ tròn trên trán, trống từ tháng Chạp năm ngoái, mười ba tháng.
Ba cầm cái gương. Vành đồng mới, đánh bóng sáng loáng, ba cái chấu. Mặt kính trong veo, không nứt.
Trước khi gắn, ba lật mặt sau lên, đưa ra trước mặt Tiệp.
Mặt trong vành đồng, sát mép kính. Một bông sen năm cánh. Cánh thứ năm lệch.
– Ba khắc lệch hả ba? – Tiệp hỏi.
– Ba cố ý. – Ba nói. – Lân có cái tật thì mới nhớ chủ.
Ông nội đứng sau lưng ba, nghe câu đó, câu ông nói mười chín năm trước. Ông không nói gì. Ông chỉ đặt tay lên vai ba.
Bên cạnh bông sen, con hạc nhỏ xíu đứng một chân. Như trên cái vành ba làm cho con lân trắng ngà hồi tháng Chín.
Và bên cạnh con hạc, có một thứ thứ ba. Nhỏ hơn nữa. Tiệp phải đưa sát mắt mới thấy. Một vòng tròn nhỏ, bên trong có một đường chéo, từ góc trên bên trái xuống góc dưới bên phải.
Một cái gương nứt.
Ba gắn cái gương mới lên trán con lân vàng. Ba cái chấu khớp vô ba cái ngàm. Nghe "tách".
Bảy giờ sáng mùng Một, hai đoàn lân đứng ở hai đầu hẻm Cây Sung.
Thuận Phong ở đầu hẻm, chỗ xe hủ tiếu của má hôm nay nghỉ bán. Con lân vàng. Lần đầu tiên từ đêm hội chợ năm đó, Thuận Phong ra đường với một con lân vàng. Tiệp đội đầu, Đạt làm đuôi. Chú Sáu Mỡ làm Ông Địa, bụng độn gối, quạt mo phe phẩy. Không phải cái quạt mo của chú. Cái quạt mo của bà Mười. Tiệp đưa chú mượn, chỉ một buổi.
Bạch Hạc ở cuối hẻm, trước cái cổng sân bà Mười cũ, giờ là tấm tôn rào cao ba mét, cây me già đã đốn, chỉ còn cái gốc ló qua khe tôn. Con lân trắng ngà. Xán đội đầu, Thạnh làm đuôi. Lò Xo làm Ông Địa.
Ở giữa là ba mươi mấy căn nhà, cửa nhà nào cũng mở, bàn thờ trời nhà nào cũng còn nhang, và trước cửa mỗi nhà có một phong bao đỏ kẹp trên que tre.
Ở dưới gốc sung, bà Mười Huê ngồi trên cái ghế bố. Bà đi xe ôm từ chung cư lầu mười hai về từ năm giờ sáng. Bà nói Tết mà không ngồi dưới gốc sung thì bà không biết Tết tới chưa.
Ông Tư Đờn đứng cạnh bà Mười, nhai trầu, ôm cái lon sữa bò. Lúc Tiệp đi ngang hồi sáng, ông nói với cô:
– Con Tiệp. Khách Biên Hòa đặt cái thứ chín.
– Chú Tư!
– Khách dặn kỳ này khách tới lấy. – Ông Tư Đờn nói, nhai trầu, mặt tỉnh queo. – Khách nói khách ở cách ba mét.
Bây giờ ông đứng dưới gốc sung, nhìn hai đầu hẻm, cười khặc khặc.
Ở đầu hẻm, ba ngồi trên xe lăn, cái trống con của ông nội đặt trên đùi. Ông nội đứng bên cạnh, trống cái trên xe đẩy. Ba tháng nay, tối nào ba cũng tập. Ông nội ngồi coi, mắt nhắm, gõ nhịp lên đùi, không nói gì, cho tới tối hai mươi tám tháng Chạp, ông mở mắt ra nói một chữ: "Đủ."
Ba cầm cặp dùi lên.
Cả hẻm Cây Sung im.
Tùng tùng tùng… tùng.
Tiệp đứng trong đầu lân vàng, nghe tiếng trống đó, và hai tay cô giữ hàm lân mà run. Mười sáu năm. Mười sáu năm cô không nghe ba đánh một tiếng trống. Ba tiếng nhanh. Một tiếng hụt. Không phải ông nội. Không phải Xán. Tiếng hụt của ba, trễ chừng một cái chớp mắt, rơi đúng chỗ mái tôn móp.
Mười phần.
Ông nội nhận nhịp từ ba, đánh trống cái tiếp. Con lân vàng thức dậy, ngáp, rũ lông, chớp mắt phượng.
Ở cuối hẻm, trống Bạch Hạc nổi lên. Anh Hai Cò.
Nhà thứ nhất là nhà ông Bảy Lò, con chó vàng sủa ba tiếng rồi chui gầm bàn, như mọi năm. Nhà thứ hai là nhà cô Tám uốn tóc. Nhà thứ ba là nhà bà Năm bán chè. Con lân vàng đi lên. Ở phía kia, con lân trắng ngà đi xuống.
Tiệp nghe tiếng trống Bạch Hạc gần dần. Cô nghe hai cái trống. Cô chờ.
Ở căn nhà thứ mười lăm, cô nghe tiếng trống của anh Hai Cò chậm lại, như mùng Một năm ngoái. Rơi vào nhịp của ông nội.
Và lần này, trống của ông nội không khựng.
Trống của ông nội cũng chậm lại. Một chút. Đi về phía tiếng trống bên kia. Hai cái trống, hai đầu hẻm, đi về phía nhau, như hai người bước trên một con đường hẹp, mỗi người nhường nửa bước.
Gần tới cây sung, qua cái lỗ nhỏ dưới cằm lân, Tiệp thấy phía bên kia gốc sung hai căn là nhà ông Chín Kiểng, cái kệ sắt ba tầng chất mai, chất cúc, chất vạn thọ. Cái kệ năm nay có bốn cái chân đế ba chân, bọc cao su, bắt bu lông xuống nền. Không chân nào đặt trên nắp cống. Ông Chín Kiểng đứng trước kệ, chỉ cái chân đế cho bé Su coi, nói cái chân đó chú Xán hàn.
Hai con lân gặp nhau trước cây sung.
Lân vàng. Lân trắng ngà. Hai cái đầu nhìn nhau. Hai cái gương trên hai cái trán, một cái mới, một cái nứt, cùng bắt nắng sớm mùng Một.
Lân trắng ngà cúi đầu trước. Chậm.
Tiệp biết người cúi đầu đó là ai. Năm nay cô không phải hỏi.
Lân vàng cúi đầu đáp lại.
Ông nội đứng sau cái trống cái trên xe đẩy, cách gốc sung mấy bước, dùi còn trên tay, nhìn hai con lân. Ông nói với ba, giọng cụt lủn, đủ cho mấy người đứng gần nghe:
– Thằng Xán cúi trước.
– Dạ. – Ba nói.
– Ờ. – Ông nội nói. – Năm sau tới lượt con Tiệp cúi trước. Chia đôi. Ngày chẵn, ngày lẻ.
Bà Năm bán chè đứng cạnh đó, nghe, cười tới mức phải vịn vô khung cửa sổ.
Trên cành sung thấp nhất, ngay giữa hẻm, bà Mười Huê đã treo một bó xà lách với một phong bao đỏ. Lộc của hẻm Cây Sung. Cao hơn đầu người một sải tay.
Chú Sáu ngồi xổm xuống, vỗ vai. Tiệp đặt chân lên vai chú. Vai người. Người biết đỡ. Chú đứng dậy, rên một tiếng như cái xe ben đề máy, như mọi lần. Đạt ôm eo chị nó, nâng lên.
Bên kia, Thạnh ngồi xổm. Xán đứng lên vai Thạnh.
Hai con lân, một vàng một trắng, cùng vươn lên. Cùng nhắm vào một bó xà lách.
Lần này không ai húc ai.
Hai cái hàm cùng ngậm lấy bó xà lách, mỗi cái hàm một bên. Hai con lân lắc đầu. Bó xà lách đứt làm hai, gọn, như cái bánh nướng cắt bằng sợi chỉ.
Cả hẻm vỗ tay. Bà Mười Huê đập tay lên thành ghế bố, không có quạt mo, bộp bộp bộp.
Dưới gốc sung, ba ngồi trên xe lăn. Má đứng sau lưng ba. Tiệp thấy, qua cái lỗ nhỏ dưới cằm lân, má đưa một bàn tay ra, đặt sau gáy ba.
Ba ngửa đầu lên.
Chậm. Rất chậm. Bàn tay má đỡ sau gáy. Ba ngửa lên từng chút, như người ta bước từng bậc xuống một cái cầu thang tối. Mười sáu năm ba không ngửa cổ nhìn lên. Bây giờ ba ngửa lên, nhìn hai cái đầu lân trên cao, một vàng một trắng, dưới tán sung.
Hai cái gương bắt nắng, hắt hai vệt sáng xuống mặt ba. Một vệt tròn. Một vệt có đường chéo.
Ba nheo mắt. Ba không quay đi.
– Ba. – Tiệp gọi từ trong đầu lân. – Ba xoay không?
Ba cười. Cái cười tới tận mắt.
– Xoay chút xíu. – Ba nói. – Mà đẹp.
Hai con lân tụt xuống, đáp đất, nhả lá xà lách thành hai chữ "phát" nguệch ngoạc trước gốc sung. Đám con nít ùa tới lượm lá.
Bé Su chen lên trước con lân trắng ngà, ngửa cổ nhìn cái gương trên trán nó.
– Cô Tiệp. – Bé Su quay qua con lân vàng. – Sao gương con lân trắng nứt mà chú Xán không thay?
Tiệp tháo đầu lân vàng ra, ôm trên tay. Tóc cô bết mồ hôi. Cô nhìn cái gương nứt. Đường nứt chạy chéo từ góc trên bên trái xuống góc dưới bên phải, mảnh như sợi tóc. Cái gương cô chê trước cửa tiệm thuốc bắc một năm trước.
– Tại nó nứt lâu rồi. – Cô nói. – Không vô thêm được gì đâu.
Ở bên kia cây sung, trong cái đầu lân trắng ngà, có một người nghe câu đó.
Và lần này, người cười thành tiếng trước là anh.
— Hết —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe