AI Truyện
Hai con lân ở hẻm Cây Sung

💞 Ngôn tình

Bản vẽ trên giấy dó

Hai con lân ở hẻm Cây Sung · Chương 15/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 15: Bản vẽ trên giấy dó

– Bảy lớp. – Tiệp nói. – Ít hơn bảy lớp thì nó không cứng.

– Bảy lớp thì nó nặng. – Xán nói. – Con nít đội không nổi.

– Vậy bốn lớp.

– Ba.

– Ba lớp thì gió thổi là lủng!

– Gió thổi là lủng nếu bồi trên khung tre. Khung nhôm thì khác. Nhôm chịu lực, giấy chỉ cần giữ hình.

Tiệp đặt cây cọ xuống, chống nạnh nhìn anh qua cái bàn gỗ.

Mười giờ đêm Thứ Hai, mười lăm tháng Ba. Gian trước xưởng số 52 bây giờ có hai cái bàn kê sát nhau: một bàn của anh, trên đó là mấy cái khung nhôm nhỏ, ống nhôm, khớp nhựa, thước kẹp. Một bàn của cô, mới khiêng từ nhà số 47 qua chiều nay, trên đó là thau hồ nếp, cuộn giấy bản, chồng giấy báo cũ, mấy cây cọ. Giữa hai cái bàn có một tờ giấy dó lớn trải ra, chặn bốn góc bằng bốn cục sắt vụn. Trên tờ giấy dó là hai bản vẽ chồng lên nhau: một bản vẽ bằng bút chì, nét thẳng, có số đo, có góc độ, của anh. Một bản vẽ bằng mực tàu, nét mềm, có mắt có râu có cái miệng đang cười, của cô.

Đây là ý của Đạt. Thằng em cô nói trong bữa cơm Chủ nhật, tỉnh bơ như nói chuyện thời tiết:

– Đầu lân nhôm của lớp anh Xán nhẹ mà xấu. Đầu lân giấy của chị Hai đẹp mà nặng. Sao hai người không làm chung một cái?

Ông nội đang ăn canh, buông muỗng. Ba cô cười. Má không nói gì, nhưng má không cãi.

Và thế là sau trận cái cống, sau phong bì của Trân, sau cái lưới inox lọc lá sung không ai thấy ai đặt, Tiệp khiêng cái bàn gỗ qua ba mét hẻm.

Cô tự nói với mình là vì tụi nhỏ. Mười hai đứa trong lớp sáng Chủ nhật, đứa nào cũng đội cái đầu lân nhôm bọc vải in hoa văn sẵn, mắt dán đề can. Bé Su hỏi cô hôm Chủ nhật: "Cô Tiệp, sao lân của con không có mắt thiệt?" Cô không trả lời được.

– Ba lớp rưỡi. – Cô nói.

– Không có ba lớp rưỡi.

– Có. Ba lớp toàn phần, thêm nửa lớp ở chỗ trán với chỗ hàm. Hai chỗ đó con nít hay đụng.

Anh nhìn cô một lúc. Rồi anh cầm bút chì lên, ghi lên bản vẽ của mình: "Trán + hàm: 3,5 lớp." Rồi anh vẽ một mũi tên chỉ vô bản vẽ mực tàu của cô, ngay cái trán con lân.

– Được. – Anh nói.

Tiệp thấy cái nét chì của anh đè lên nét mực của cô, chỗ cái trán. Cô không biết tại sao cái mũi tên đó làm cô muốn cười.

Năm đêm, rải trong một tuần, hai người làm chung.

Dì Hảo nấu mì xào cho hai đứa ăn khuya, đêm nào cũng đem xuống một khay: hai dĩa mì, hai chén canh, hai ly trà hoa cúc. Dì đặt khay lên bàn, nhìn cái đầu lân đang thành hình, rồi nhìn hai đứa, rồi đi lên lầu, không nói gì, nhưng tiếng dép nhựa trên cầu thang sắt nghe nhẹ hơn mọi khi.

Đêm thứ nhất, anh ráp khung. Cô ngồi coi, chê. Anh sửa.

Đêm thứ hai, cô bồi lớp đầu. Anh ngồi coi, hỏi. Cô giải thích: giấy bản xé tay, không cắt kéo, vì xé tay mép giấy xơ ra, bồi lên mới ăn hồ, không gờ. Hồ nếp phải nấu tới khi múc lên chảy thành dây như mạch nha. Lớp đầu bồi dọc, lớp hai bồi ngang, lớp ba bồi chéo, như đan rổ.

– Như hàn chéo. – Anh nói. – Mối dọc, mối ngang, mối chéo. Lực đi ba hướng.

– Ai dạy anh?

– Ba tui.

– Ai dạy tui?

– Ba cô?

– Ông nội. – Cô nói. – Ba tui dạy tui vẽ mắt.

Đêm thứ ba, anh làm khớp hàm chữ U bằng nhôm. Cô ngồi coi anh uốn. Anh uốn một đoạn nhôm bằng tay không, không dùng kềm, ngón cái đè lên, đều, chậm, như ép một cái lá vô sách. Cô coi tới quên bồi giấy.

– Tui uốn tre cũng vậy. – Cô nói. – Đè ngón cái.

– Tui biết. Tui coi cô uốn nan hồi tháng Chạp, mấy đêm cô làm con lân vàng.

– Mấy đêm đó anh ở bên xưởng mà.

– Ừ. Cửa sổ gác nhà cô thấp.

Cô không hỏi anh coi bao lâu.

Đêm thứ tư, hai người cãi nhau về màu. Cô muốn đỏ. Anh muốn vàng. Cô nói lân đỏ là lân của Thuận Phong. Anh nói lân của tụi nhỏ thì không phải của Thuận Phong cũng không phải của Bạch Hạc. Cô nói vậy thì màu gì. Anh nói hỏi tụi nhỏ.

Sáng Chủ nhật hôm đó, Tiệp đem tờ giấy dó ra sân bà Mười, hỏi mười hai đứa con nít. Mười hai đứa con nít cãi nhau mười lăm phút. Cuối cùng bé Su, chín tuổi, đứng lên ghế đẩu, tuyên bố:

– Màu hồng!

Mười một đứa còn lại la ó. Bé Su khóc. Lò Xo phải dỗ. Cuối cùng anh Hai Cò đề nghị bốc thăm. Bốc thăm ra màu cam.

– Màu cam. – Xán nói tối đó, nhìn hũ sơn.

– Màu cam. – Tiệp nói.

Hai người nhìn nhau, rồi cùng cười, cái cười của hai người thợ vừa bị khách hàng chín tuổi đè bẹp.

Đêm thứ năm là đêm Rằm tháng Hai. Thứ Hai, hai mươi hai tháng Ba.

Con lân cam đã sơn xong, phải phơi gió một đêm. Gian dưới xưởng kín, không có gió. Xán khiêng nó lên sân thượng, cái sân thượng nhỏ có vòng rào sắt, chỗ đêm giao thừa anh đứng thắp nhang. Tiệp leo theo, tay cầm khay mì xào của dì Hảo.

Trên sân thượng có cái bàn thờ nhỏ, có tấm hình trong khung gỗ. Lần đầu tiên Tiệp thấy rõ mặt người trong hình: một người đàn ông chừng năm mươi, tóc hớt cao, mặt vuông, mắt nheo nheo như đang nhìn nắng, có một vết sẹo nhỏ ở cằm. Giống Xán ở cái cằm và cái cách nhìn. Không giống ở chỗ người trong hình đang cười, cười rộng tới mang tai, như người ta cười khi mới kể xong một chuyện tiếu lâm.

– Ba anh hả?

– Ừ.

Cô đứng nhìn tấm hình. Cô có cảm giác lạ là cô đã thấy cái cười đó ở đâu rồi. Không phải trong hình. Ngoài đời. Lâu lắm rồi.

Xán đặt con lân cam lên cái giá sắt ở góc sân thượng, xoay mặt nó về phía gió. Gió đêm tháng Ba thổi từ phía kênh lên, khô và ấm. Trăng Rằm treo ngay trên đầu, tròn, sáng tới mức thấy được màu cam của con lân.

Hai người ngồi trên bậc xi măng sát vòng rào, ăn mì xào.

Từ trên này nhìn xuống, hẻm Cây Sung như một con mương sáng đèn vàng chạy giữa mấy dãy mái tôn. Cây sung đen thẫm. Cửa sổ gác lửng nhà số 47 tối om, Tiệp thấy rõ cái bệ cửa còn vệt sơn đỏ hôm cô không lau.

– Cửa sổ nhà tui thấp thiệt. – Cô nói.

– Ừ.

– Anh coi tui làm đầu lân bao lâu rồi?

Anh không trả lời liền.

– Từ hồi dọn về. – Anh nói. – Đêm đầu tiên dọn về, tui ngồi trên này, thấy đèn gác nhà cô sáng tới hai giờ sáng. Tui tưởng nhà cô có người bệnh. Đêm sau cũng sáng. Đêm sau nữa. Tui mới để ý. Thấy cô ngồi vẽ mắt lân.

Tiệp không nói gì. Cô nhìn con lân cam trên giá sắt. Ánh trăng rọi lên đôi mắt nó, đôi mắt cô vẽ chiều nay, mắt tròn, không phải mắt phượng, vì bé Su nói mắt phượng nhìn "dữ quá".

– Hồi nhỏ, – cô nói, – tui sợ trăng tròn.

Anh quay qua.

– Tại sao?

– Tại vì đêm đó trăng tròn. – Cô nói. Cô không biết tại sao cô nói. Có lẽ vì trăng. Có lẽ vì tấm hình người đàn ông cười tới mang tai sau lưng cô. Có lẽ vì năm đêm ngồi chung một bàn, nghe một người khác nói "lực đi ba hướng" về cái thứ cô làm cả đời. – Không phải tròn hẳn. Mười ba. Trăng mười ba tháng Tám. Hội chợ Trung thu ở Thủ Dầu Một. Năm đó tui mười hai tuổi.

Anh ngồi im. Rất im.

– Tui nhớ không nhiều. – Cô nói. – Tui nhớ sân khấu có cọc. Năm cây cọc. Tui nhớ ba tui đội con lân vàng. Con lân đó ba tui tự làm, gương trên trán ba tui tự làm vành. Tui nhớ ông nội đánh trống. Tui nhớ đám đông, đông lắm, tui đứng hàng đầu, má tui nắm tay tui. Tui nhớ con lân vàng đứng trên cây cọc cao nhất, ngửa đầu lên trời, lúc đó trăng ở ngay sau lưng nó, tui thấy cái đầu lân vàng in lên mặt trăng.

Cô nuốt nước bọt.

– Rồi nó nghiêng. Tui không nhớ tại sao nó nghiêng. Tui chỉ nhớ nó nghiêng, rồi người ta la. Rồi có một cái gì đó văng ra, lóe lên dưới đèn sân khấu, xoay xoay trên không như đồng xu. Sau này tui mới biết đó là cái gương trên trán lân. Rồi má tui bịt mắt tui lại.

Gió thổi qua sân thượng. Lông con lân cam rung rung.

– Tui không thấy ba tui té. – Cô nói. – Má tui bịt mắt tui. Tui chỉ nghe. Nghe một tiếng… không phải tiếng la. Một tiếng đục. Như cái bao gạo rớt.

Cô ngừng. Cô cảm thấy anh ngồi bên cạnh không nhúc nhích, không thở mạnh, như một cây cọc cắm xuống sân thượng.

– Sau đó, – cô nói tiếp, giọng đều lại, – không ai nói gì với tui hết. Ba tui nằm viện ba tháng. Về nhà thì ngồi xe lăn. Ông nội cấm nhắc. Tui hỏi ai làm đuôi dưới ba, ông nội đuổi tui ra sân. Lớn lên má tui nói một câu thôi: người làm đuôi đỡ hụt. Không phải lỗi của ba. Hết. Mười lăm năm, tui chỉ biết có vậy.

Cô quay qua anh. Mặt anh dưới trăng trắng như vôi.

– Tháng trước, – cô nói, – má tui chửi ba tui vì ba ký giấy cho Đạt lên cọc của anh. Má tui nói "cọc của nhà đó". Rồi má nói "người làm đuôi bữa đó…" thì ba tui la. Ba tui chưa bao giờ la.

Cô nhìn anh.

– Rồi ba tui gọi tên ba anh, rồi ba tui run tay.

Anh không nói gì.

– Xán. – Cô nói, nhỏ. – Anh có biết người làm đuôi bữa đó là ai không?

Gió đêm thổi. Trăng Rằm tháng Hai đứng yên trên đầu hai người. Ở góc sân thượng, tấm hình người đàn ông cười tới mang tai vẫn cười.

Xán nhìn xuống hai bàn tay mình. Một lúc rất lâu. Rồi anh nói, và giọng anh không đều đều như đọc thông số, cũng không khô như ngói. Giọng anh như mặt cọc trơn không bọc cao su:

– Cho tui mấy ngày. Có một chuyện tui phải hỏi má tui trước. Rồi tui nói hết với cô.

Tiệp nhìn anh. Cô có thể giận. Cô có thể đứng dậy, bỏ về, như hôm mùng Sáu. Cô biết là cô có lý do để giận.

Nhưng cô nhìn hai bàn tay anh đặt trên đầu gối. Hai bàn tay đã uốn khớp hàm chữ U bằng ngón cái, đã bào hai tấm ván cho xe lăn của ba cô, đã đỡ thằng em cô hai lần trên cọc. Hai bàn tay đó đang run.

– Ừ. – Cô nói. – Mấy ngày.

Cô ở lại thêm một chút. Hai người không nói gì. Rồi cô đi xuống, về nhà.

Xán ngồi một mình trên sân thượng tới khi trăng ngả về phía kênh. Rồi anh đi xuống lầu, gõ cửa buồng má.

Dì Hảo chưa ngủ. Dì ngồi trên giường, cái kính lão trên mũi, quyển kinh mở trên đùi nhưng không đọc. Dì nghe tiếng con gõ cửa là biết. Dì nghe hết, từ đầu, qua cái cửa sổ thông lên sân thượng.

– Má. – Xán nói, đứng ở cửa. – Con muốn nói với nhà đó. Chuyện ba làm đuôi.

Dì Hảo gỡ kính lão xuống. Dì gấp quyển kinh lại, đặt lên đầu giường. Rồi dì nhìn con trai, cái nhìn mà Xán chỉ thấy một lần, cái đêm ba anh nằm trong phòng hồi sức.

– Ba con dặn, – dì nói, giọng dì không còn lơ lớ vui vẻ như mọi ngày, mà thấp, chậm, từng chữ, – chuyện đó chôn theo ba.

– Con biết ba dặn. Nhưng…

– Con không biết. – Dì Hảo nói. – Ba con dặn má, không phải dặn con. Ba con nói: "Bà nhớ, chuyện đêm đó chôn theo tôi. Thằng Xán có hỏi, bà cũng đừng nói gì hơn cái nó đã thấy."

Xán đứng ở cửa buồng. Anh nghe câu đó ba lần trong đầu, như nghe một tiếng trống có chỗ hụt.

"Đừng nói gì hơn cái nó đã thấy."

Mười lăm năm nay, anh tưởng cái anh đã thấy là tất cả.

— Hết chương 15 —

Mục lục Hai con lân ở hẻm Cây Sung

  1. 1Hai con lân trước tiệm thuốc bắc10 phút
  2. 2Biên bản ở phường12 phút đọc
  3. 3Người khách chưa từng tới lấy hàng10 phút đọc
  4. 4Ba điều kiện của con lân đỏ11 phút đọc
  5. 5Tay trống thay thế10 phút đọc
  6. 6Ông Táo và ngày ba mươi mốt11 phút đọc
  7. 7Tất niên hai nhà11 phút đọc
  8. 8Mùng Một không cãi nhau11 phút đọc
  9. 9Số điện thoại thứ hai11 phút đọc
  10. 10Chữ ký của đoàn10 phút đọc
  11. 11Rằm tháng Giêng ở Bến Vàm10 phút đọc
  12. 12Thằng em trên cọc10 phút đọc
  13. 13Ông kỹ sư và ông thợ bồi10 phút đọc
  14. 14Ghen thì nói là ghen12 phút đọc
  15. 15Bản vẽ trên giấy dó11 phút đọc
  16. 16Ông nội đi lạc11 phút đọc
  17. 17Sân thượng lúc năm giờ chiều10 phút đọc
  18. 18Cái gương nứt11 phút đọc
  19. 19Hai bên bức tường11 phút đọc
  20. 20Lời nói nửa chừng11 phút đọc
  21. 21Một buổi hẹn với người khác10 phút đọc
  22. 22Người đàn bà giữ lời chồng12 phút đọc
  23. 23Vòng loại11 phút đọc
  24. 24Ba tầng bàn11 phút đọc
  25. 25Mất sân11 phút đọc
  26. 26Hai ông già10 phút đọc
  27. 27Cổ chân11 phút đọc
  28. 28Đoạn clip11 phút đọc
  29. 29Thắp nhang cho người đã mất10 phút đọc
  30. 30Một con lân hai nhà10 phút đọc
  31. 31Một ký tám10 phút đọc
  32. 32Đêm trước chung kết10 phút đọc
  33. 33Chung kết10 phút đọc
  34. 34Bánh Trung thu cắt đôi10 phút đọc
  35. 35Ngày ba mươi mốt10 phút đọc
  36. 36Mùng Một, hai con lân10 phút đọc

Về truyện này

Hai con lân ở hẻm Cây Sung là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →