Chương 31: Một ký tám
Cái cân điện tử nhỏ đặt giữa bàn làm việc của xưởng số 52, màn hình xanh lè, và tám giờ tối Thứ Tư, nó trở thành thứ quan trọng nhất trong cả hẻm Cây Sung.
Bàn của Tiệp lại khiêng qua xưởng, kê sát bàn của Xán, như hồi tháng Ba. Lần này người khiêng là thằng Đạt với thằng Thạnh, và cô không cãi. Cô ngồi trên cái ghế đẩu, chân trái bó nẹp gác lên một thùng sơn úp ngược. Trước mặt cô là thau hồ nếp, cuộn giấy bản, mấy cây cọ. Trước mặt anh là cái khung nhôm, bộ khoan, mấy cây giũa.
Ba mươi phút đầu, không ai nói câu nào. Hai người nhìn cái khung nhôm.
Ba trăm gờ-ram.
– Giấy báo nặng. – Tiệp nói cuối cùng. – Lớp hai mình bồi giấy báo. Giấy báo có mực, có keo. Nặng hơn giấy bản.
– Bỏ giấy báo thì lấy gì?
Cô không trả lời liền. Cô nhìn quanh xưởng. Tấm bảng cờ lê có viền sơn trắng. Mấy cây ống thép dán băng keo giấy. Cái bàn của anh, cái bàn của cô.
Và dưới cái hộp thiếc trên kệ, chỗ anh cất mấy tờ khăn giấy, có một cuộn giấy màu ngà, cột dây gai.
– Cái đó. – Cô chỉ.
Anh quay lại nhìn.
– Tờ bản vẽ hồi tháng Ba. – Anh nói. – Bản vẽ con lân cam.
– Giấy dó. – Cô nói. – Còn dư không?
Anh đứng dậy, lấy cuộn giấy xuống, mở dây gai. Tờ bản vẽ con lân cam nằm trên cùng, nét chì của anh, nét mực tàu của cô, cái mũi tên anh vẽ chỉ vô trán con lân. Bên dưới còn bốn tờ giấy dó trắng, chưa vẽ gì.
– Ba tui mua cả xấp. – Anh nói. – Ba tui hay vẽ bản vẽ cọc trên giấy dó. Ba nói giấy dó không rách, gấp trăm lần không rách.
Tiệp cầm một tờ lên, đưa ra trước đèn. Mỏng, ánh đèn xuyên qua thấy rõ những sợi xơ dọc ngang đan vào nhau như mạng nhện. Cô kéo hai mép giấy. Không rách. Kéo mạnh hơn. Không rách.
– Giấy dó dai hơn giấy báo gấp mấy lần. – Cô nói. – Nhẹ hơn một nửa. Bồi lớp hai bằng giấy dó, một lớp giấy dó cứng bằng hai lớp giấy báo.
Xán cầm tờ giấy dó lên cân. Rồi anh cầm bút chì, tính lại trên lề bản vẽ.
– Một ký chín mươi lăm.
– Còn một trăm rưỡi.
– Ừ.
Anh cầm cái khung nhôm lên, xoay dưới đèn. Rồi anh lấy cây bút lông, chấm mấy chấm đen lên mấy chỗ trên khung: hai bên mang tai, sau gáy, dưới cằm.
– Mấy chỗ này không chịu lực. – Anh nói. – Tui khoan lỗ. Mỗi lỗ bớt được mấy gờ-ram.
– Khoan lỗ thì giấy bồi lên chỗ đó lõm.
– Tui khoan nhỏ. Năm li. Cô bồi lên không thấy.
– Năm li thì tui thấy.
– Bốn li.
Cô nhìn anh. Anh nhìn cô. Cô thấy đuôi mắt anh nhăn lại, chỗ cái gì đó rất nhỏ.
– Bốn li. – Cô nói.
Chín giờ, anh khoan xong hai mươi tám cái lỗ bốn li trên cái khung nhôm. Mười giờ, cô bồi xong lớp thứ nhất, giấy bản xé tay, bồi dọc. Hồ nếp cô pha loãng hơn mọi khi, quét mỏng tới mức cây cọ chỉ còn để lại một lớp bóng như sương.
Dì Hảo đem xuống một khay mì xào, như tháng Ba. Hai dĩa mì, hai chén canh, hai ly trà hoa cúc. Dì đặt khay lên bàn, nhìn cái đầu lân đang thành hình, nhìn hai đứa, rồi đi lên lầu. Lần này dì có nói một câu, ở bậc cầu thang thứ năm, không quay lại:
– Ba con hồi xưa bồi giấy dó lên khung cọc, làm mô hình. Má cằn nhằn hoài vì hồ dính bàn ăn.
Mười giờ rưỡi, lớp thứ hai. Giấy dó, bồi ngang.
Tiệp xé giấy dó bằng tay, xé thành từng mảnh cỡ bàn tay, mép xơ ra như râu bắp. Cô đặt từng mảnh lên lớp giấy bản còn ướt, ấn nhẹ bằng đầu ngón tay, vuốt từ giữa ra mép. Giấy dó thấm hồ, trong lại, ôm lấy cái khung nhôm như da ôm xương.
Xán ngồi bên cạnh, cầm từng mảnh giấy dó đưa cho cô. Anh không bồi. Anh không biết bồi. Anh chỉ đưa. Mảnh nào cô cần to, anh đưa mảnh to. Mảnh nào cô cần nhỏ, anh đưa mảnh nhỏ. Tới mảnh thứ hai mươi, anh đưa đúng mà cô không cần nói.
– Sao anh biết tui cần mảnh nào? – Cô hỏi.
– Tui coi cô bồi năm đêm hồi tháng Ba. – Anh nói. – Với hai năm qua cửa sổ.
Gần mười hai giờ, lớp thứ ba. Nửa lớp. Chỉ ở trán và ở hàm, chỗ con nít hay đụng, chỗ cái gương sẽ nằm.
Mười hai giờ, xong.
Cái đầu lân nằm trên cái giá gỗ, trắng ngà, ướt hồ, bóng lên dưới đèn huỳnh quang như một cái vỏ trứng. Chưa có mắt. Chưa có lông. Chưa có gương. Giữa trán là một cái lỗ tròn.
Xán đặt nó lên cái cân, cẩn thận, như đặt một đứa con nít đang ngủ.
Màn hình xanh nhảy số. Một ký sáu trăm ba mươi.
– Ướt. – Tiệp nói. – Khô thì nhẹ hơn chừng tám chục gờ-ram.
Xán cầm bút chì. Một ký sáu trăm ba mươi, trừ tám chục nước, cộng lớp sơn, cộng mắt, cộng lông bờm, cộng vành gương ba chấu của ông Lực, cộng cái gương.
Anh tính hai lần.
– Một ký tám trăm hai mươi.
– Còn hai chục.
– Hai chục.
Hai người nhìn nhau. Rồi cùng nhìn xuống cái đầu lân trắng ngà trên cân.
– Lông bờm. – Tiệp nói. – Lông dê nhuộm nặng. Tui đổi qua sợi tơ. Sợi tơ nhẹ, gió thổi bay đẹp hơn. Bớt được ba chục.
– Một ký bảy chín mươi.
– Một ký tám. – Cô nói. – Mười gờ-ram đó tui để dành cho mắt.
Anh nhìn cô.
– Mắt nặng mười gờ-ram hả?
– Mắt phượng. – Cô nói. – Mắt phượng thì phải nặng hơn mắt tròn.
Anh cười. Cười thành tiếng, giữa cái xưởng lúc nửa đêm, mắt nheo lại hai bên đuôi, cái kiểu cười của thằng con nít vừa thấy diều mình bay lên được. Cô cười theo. Hai người ngồi cười trước cái cân điện tử, như hai đứa điên.
Mười hai giờ rưỡi, Xán bưng cái đầu lân vô buồng sấy, cái buồng sắt nhỏ ở góc xưởng có bốn bóng đèn hồng ngoại. Anh chỉnh xuống ba mươi lăm độ, bật cái quạt nhỏ thổi nhẹ. Anh dán lên cửa buồng một mẩu băng keo giấy, viết bằng bút lông: "35 độ. Đừng ai đụng." Rồi anh viết thêm một dòng nhỏ hơn bên dưới: "Chú Lực coi lúc 7 giờ."
– Lên sân thượng không? – Anh hỏi. – Chờ khô.
Tiệp nhìn cái cầu thang sắt, hai tầng, dốc, hẹp. Rồi nhìn cái nẹp xanh trên cổ chân mình.
– Tui leo không nổi.
Anh đứng trước mặt cô, quay lưng lại, ngồi xổm xuống. Như sáng hôm qua trước xe lăn của ba cô.
– Lên lưng tui. – Anh nói.
Cô ngồi trên cái ghế đẩu, nhìn cái lưng áo thun xám dính hồ nếp. Cô nhớ ba nhắm mắt áp mặt vô cái lưng đó suốt hai tầng cầu thang. Cô nhớ hai bàn tay thợ khắc đặt lên hai vai thợ hàn.
Cô đặt hai tay lên vai anh.
Sân thượng xưởng số 52 lúc gần một giờ sáng. Mưa đã tạnh từ nửa đêm. Trời rửa sạch, tối thẫm, có mấy vì sao. Phía tây, sát mái tôn mấy dãy nhà bên kia kênh, có nửa mặt trăng đang lặn, màu vàng nhạt, như một miếng bánh bò cắt đôi.
Trăng mùng tám tháng Tám.
Anh đặt cô ngồi xuống bậc xi măng sát vòng rào, chỗ đêm Rằm tháng Hai, chỗ sáng hôm qua. Anh ngồi xuống bên cạnh. Không cách một cái dĩa. Không cách gì.
Tấm hình ông Thiện ở góc sân thượng, trên bàn thờ nhỏ, nhang đã tàn. Người trong hình vẫn cười rộng tới mang tai.
Hai người ngồi im. Dưới hẻm, đèn đường dưới gốc sung vàng vọt. Cửa sổ gác nhà số 47 tối. Cửa sổ nhà bà Mười tối.
– Anh kêu tui là "cô" hoài. – Tiệp nói.
– Ừ.
– Từ tháng Giêng tới giờ. Tám tháng.
– Ừ.
– Anh không biết kêu cái khác hả?
Anh im một lúc. Cô nghe anh thở. Rồi anh nói, rất nhỏ, như thử một mối hàn mới bằng búa đồng:
– Em.
Cô không trả lời. Cô quay qua nhìn anh. Mặt anh gần, dưới ánh nửa vầng trăng sắp lặn, mắt anh nhìn cô như người ta nhìn cái đầu lân trên cân, chờ một con số.
– Sổ trong đầu anh. – Cô nói. – Ghi những gì?
– Một cái máy phát. – Anh nói. – Ba ly nước sâm. Một bài trống. – Anh ngừng. – Một tô hủ tiếu đặc biệt. Một hũ tăm tre. Một cái phong bì chưa bóc.
– Hết chưa?
– Còn một thứ. – Anh nói. – Chưa nói được. Nói ra là phải trả.
Tiệp nhìn anh. Cô nhớ cái đêm ông nội đi lạc, bậc cửa xưởng, mùi nắng quốc lộ trên tóc anh, cô nhích tới một chút. Rồi tiếng quạt mo đập lên cột điện.
Cô nhìn xuống hẻm. Cửa sổ nhà bà Mười tối om.
– Bà Mười ngủ chưa? – Cô hỏi.
– Ngủ rồi. – Anh nói. – Hồi chiều tui mua bốn ly nước sâm. Bà hỏi tui mua chi nhiều vậy. Tui nói tối nay thức. Bà nói vậy bà ngủ sớm.
Tiệp nhìn anh. Anh nhìn lại cô, mặt tỉnh queo, như mặt người mới đọc xong một thông số.
– Anh tính hết rồi hả?
– Tui tính bà Mười. – Anh nói. – Không tính em.
Cô cười. Cô cười tới mức phải lấy tay che miệng, sợ cả hẻm thức. Rồi cô thôi cười. Cô đưa tay ra, đặt lên cái má anh còn dính một vệt hồ nếp khô, chùi nó đi bằng ngón cái. Anh ngồi im. Anh không nhích tới. Như ở bậc cửa xưởng hồi tháng Ba, anh chỉ nhìn, như hỏi.
Lần này cô không nhích tới một chút.
Cô nhích tới hết.
Trên sân thượng xưởng số 52, một giờ sáng mùng chín tháng Chín, dưới nửa vầng trăng mùng tám đang lặn sau dãy mái tôn bên kia kênh. Không có quạt mo nào đập lên cột điện, không có ai gọi tên ai.
Lâu lắm. Rồi cô tựa trán vô vai anh, thở.
– Em không biết anh ghi gì cái thứ cuối. – Cô nói.
Anh ngồi im. Rồi cô thấy anh cứng người lại. Không phải vì câu hỏi. Vì một chữ trong câu hỏi.
– Em. – Anh nói lại, nhỏ, như đọc một con số mới. – Em vừa nói "em".
– Ừ. – Cô nói, mặt vẫn tựa vô vai anh, không ngẩng lên. – Lỡ miệng.
– Lỡ miệng thì nói lại đi.
– Không.
– Một lần.
– Không. – Cô nói. – Chủ nhật thi xong rồi nói.
Dưới xưởng, cái quạt nhỏ trong buồng sấy kêu rì rì. Phía tây, nửa vầng trăng chạm mái tôn, rồi khuất.
— Hết chương 31 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe