Chương 26: Hai ông già
Mái tôn kho gạo nóng như mặt chảo lúc năm giờ chiều Thứ Năm, và Tiệp ngồi trên đó, cách mặt đất sáu mét, cầm cây vặn vít, không thấy sợ.
Cô ngạc nhiên vì chuyện đó. Cô ngồi trên mái, không phải đứng. Mông chạm tôn, hai chân co lại, hai tay làm việc. Mái tôn là thứ không biết đỡ, như cái bàn. Nhưng mái tôn nằm ngang, có kèo sắt bên dưới, và cô ngồi trên nó như ngồi trên nền nhà. Không ai đứng trên mái nhà mà múa.
Xán ngồi cách cô hai tấm tôn, bắt vít cho tấm tôn mới thay. Anh mặc áo thun xám đẫm mồ hôi, đeo găng tay vải, đầu đội cái nón vải rộng vành như nông dân đi cấy. Dưới kho, tiếng Đạt với Lò Xo kéo cọc vô góc, tiếng dì Hảo gọi tụi nhỏ ra ăn chè.
– Đưa con vít. – Anh nói.
Cô đưa. Anh bắt. Tiếng máy bắt vít rè rè.
– Ông nội tui kêu anh qua uống trà. – Cô nói. – Mai.
– Ừ.
– Anh có sợ không?
Anh dừng tay. Anh ngẩng lên, nhìn cô dưới vành nón vải.
– Có. – Anh nói.
– Sợ gì?
– Không biết. – Anh nói. – Sợ không biết mình sợ cái gì. Giống cô sợ cái bàn.
Cô cười. Cô không định cười, nhưng cái mặt anh dưới vành nón vải buồn cười quá. Anh nhìn cô cười, rồi cúi xuống bắt vít tiếp.
Gió chiều thổi qua mái tôn. Ở xa, phía chợ, mấy con chim sẻ bay thành bầy về mấy cái lỗ thông gió trên mái chợ. Tiệp ngồi nhìn. Cái cổ chân trái nhức âm ỉ, nhưng ngồi thì không sao.
– Xán. – Cô nói.
– Ừ.
– Thi xong, tui với anh nói chuyện.
Anh không ngẩng lên.
– Chuyện gì?
– Chuyện cái sổ trong đầu anh. – Cô nói. – Tui muốn coi anh ghi gì trong đó.
Máy bắt vít trong tay anh rè rè thêm một lúc, lâu hơn cần thiết. Con vít đã vô tới cán từ lâu. Anh tắt máy.
– Thi xong. – Anh nói.
Tối Thứ Sáu, ông nội đuổi cả nhà đi.
Không đuổi thẳng. Ông nói Thuận Phong còn hai ngày tới bán kết, tối nay tập ở sân bà Mười tới mười giờ, cả đoàn, không thiếu ai. Thằng Đạt đi theo chị nó. Má thì ông nhờ qua nhà bà Năm bán chè ngồi chơi, bà Năm mới mổ mắt, cần người nói chuyện cho đỡ buồn. Má nhìn ông, không hỏi. Má đi.
Ba cô thì không đi đâu được. Ba ở trong buồng, cửa khép.
Tám giờ tối, Xán đứng trước cửa nhà số 47.
Anh mặc sơ mi trắng, cái áo đêm giao thừa. Anh đứng đó một lúc lâu, tay giơ lên định gõ, rồi hạ xuống, rồi giơ lên lại. Cánh cửa gỗ cũ, sơn xanh đã bong từng mảng. Cái ghế đẩu bên cạnh cửa, cái ghế từng đỡ hộp bánh tổ của má anh và cái khung nhôm có mười hai cái tên.
Anh gõ ba cái.
– Vô. – Giọng ông Thuận từ trong vọng ra.
Gian trước nhà số 47 sáng đèn tuýp. Hai cái bàn gỗ dính hồ đã dọn gọn. Ông Thuận ngồi ở cái bàn nhỏ gần bàn thờ, trên bàn có một bộ ấm chén men trắng đã ngả vàng, một bình thủy, một dĩa đậu phộng rang. Ông mặc áo sơ mi trắng đi đánh cờ, cài nút tới cổ. Bên kia bàn là một cái ghế trống.
– Ngồi.
Xán ngồi xuống.
Ông Thuận rót nước sôi vô ấm, tráng chén, đổ nước tráng ra cái tô sành, rồi bỏ trà vô ấm, rót nước, đậy nắp. Ông làm chậm, từng động tác, như người ta đánh một bài trống quen. Hai người ngồi im trong lúc trà ngấm. Ngoài hẻm, tiếng trống tập từ sân bà Mười vọng về, đánh nhỏ, đều. Anh Ròm đánh. Không có chỗ hụt.
Ông Thuận rót trà ra hai cái chén. Đẩy một chén qua cho anh.
– Uống.
Xán uống. Trà đậm, chát, nóng bỏng lưỡi. Trà của người già uống để tỉnh, không phải để ngon.
– Thằng Thiện, – ông Thuận nói, – năm tám mươi chín đứng ngoài vách nhà tao. Tao kể mày nghe rồi.
– Dạ.
– Tao chưa kể mày nghe cái mái hiên đó của ai. – Ông nói. – Nhà tao hồi đó ở trong một con hẻm nhỏ ở Chợ Lớn, nhà sàn gỗ, mái tôn. Kế bên là tiệm bánh bò của bà Sáu Hồng. Thằng Thiện đứng dưới mái hiên tiệm bánh bò. Tối nào cũng mua một cái bánh bò, cầm trên tay, không ăn, đứng đó. Bà Sáu Hồng tưởng nó thương con gái bả.
Ông Thuận nhấp một ngụm trà.
– Một năm, nó mua ba trăm mấy chục cái bánh bò. – Ông nói. – Bà Sáu Hồng giàu nhờ nó.
Xán nhìn ông. Ông không cười, nhưng ở đuôi mắt ông có mấy nếp nhăn xếp lại, như người cố nhịn.
– Ba con thích bánh bò lắm ông. – Anh nói. – Tết nào cũng đòi má con làm.
– Tao biết. – Ông Thuận nói. – Một năm ăn ba trăm cái thì phải thích.
Ông đặt chén trà xuống. Ông nhìn ra cửa, qua ba mét hẻm, tới cái cửa cuốn xanh. Rồi ông nhìn lại Xán. Mặt ông không còn nếp nhăn ở đuôi mắt.
– Đêm đó. – Ông nói. – Thằng Lực lên cọc. Cái đầu lân vàng…
– Ba.
Tiếng bánh xe lăn kêu "két". Một vòng.
Cửa buồng mở. Ông Lực ngồi trên xe lăn ở khung cửa, mặc bộ đồ ngủ sọc nâu, hai tay đặt trên hai vành bánh xe. Xán đứng bật dậy khỏi ghế.
– Con chào chú.
Ông Lực gật đầu với anh. Rồi ông lăn xe ra, chậm, bánh xe kêu "két" thêm hai vòng nữa, dừng lại cạnh bàn trà, đối diện ông Thuận.
– Ba. – Ông Lực nói. – Để con kể.
Ông Thuận nhìn con trai mình. Hai cha con nhìn nhau qua cái bàn trà nhỏ, qua bộ ấm chén men trắng ngả vàng, như hai người cầm hai đầu một sợi dây.
– Mày kể đi. – Ông Thuận nói.
Ông Lực nhìn xuống hai bàn tay mình trên vành bánh xe. Mười ngón tay thợ, có mấy vết sẹo nhỏ của cây đục, có vết chai ở mé ngón cái của người khắc đồng ba mươi năm.
– Nhưng chưa phải bây giờ. – Ông nói.
Ông Thuận đập bàn tay xuống mặt bàn. Không mạnh, nhưng mấy cái chén nhảy lên kêu lách cách.
– Mày nói câu đó mười sáu năm rồi!
– Con biết.
– Biết mà mày còn nói?
– Ba. – Ông Lực nói, giọng không lớn, nhưng không run. – Con Tiệp đang tập lên cao. Hai ngày nữa nó đứng trên ba tầng bàn, hai mét hai. Lần đầu tiên trong đời nó. Nó mà biết ba nó té vì cái gì, nó đứng trên đó nó sẽ nghĩ tới cái đầu nó. Nó sẽ nghĩ đầu nó có giống đầu ba nó không. Ba có muốn con nhỏ đứng hai mét hai mà nghĩ vậy không?
Ông Thuận im.
Xán đứng giữa hai người, không ngồi xuống, không dám ngồi xuống. Anh nghe từng chữ. "Té vì cái gì." "Cái đầu nó." "Đầu nó có giống đầu ba nó không." Anh nhớ anh Hai Cò ngồi trên chõng tre dưới gốc dừa: "Chóng mặt từ chiều." "Con lân ngửa quá."
– Mày sợ con mày sợ, – ông Thuận nói, rất chậm, – hay mày sợ con mày biết?
Ông Lực không trả lời.
Cái quạt trần kẽo kẹt quay. Ngoài hẻm, tiếng trống tập của anh Ròm dừng lại, rồi đánh lại từ đầu.
Rồi ông Lực ngẩng lên, nhìn Xán.
– Cậu ngồi đi. – Ông nói.
Xán ngồi xuống.
– Chú biết cậu đi xuống miền Tây gặp anh Hai Cò. – Ông Lực nói. – Thằng Đạt kể. Chú biết anh Hai nói gì với cậu. Chú đoán được. Anh Hai đứng gần, anh Hai thấy chú ra sau rạp.
– Dạ.
– Cậu biết gần hết rồi. – Ông nói. – Cậu thiếu một chút. Cái chút đó là của chú. Không phải của ba cậu, không phải của ông nội. Của chú.
Ông Lực đặt tay lên thành bàn trà, gần cái chén của Xán.
– Cậu chờ chú thêm ít bữa. Thi xong, chú kể. Kể hết. Trước mặt con Tiệp, trước mặt má nó, trước mặt cậu. Chú hứa.
Xán nhìn ông. Ông Lực ngồi trên xe lăn, hai chân nằm im trên bàn để chân, mặt xám dưới đèn tuýp, nhưng mắt không tránh.
– Dạ. – Xán nói. – Con chờ được. Con chờ mười lăm năm rồi.
– Mười sáu. – Ông Lực nói. – Thứ Hai sau chung kết là mười ba tháng Tám. Tròn mười sáu năm.
Ông quay xe, lăn về buồng. Bánh xe kêu "két", "két". Cửa buồng khép lại.
Ông Thuận ngồi im một lúc lâu. Rồi ông rót thêm trà vô chén của Xán, chén thứ hai, trà đã nguội, đắng hơn.
– Uống hết rồi về. – Ông nói.
Xán uống hết. Anh đứng dậy, cúi đầu chào ông, đi ra cửa.
Ông Thuận đứng dậy theo. Ông đi ra cửa sau lưng anh, chống một tay vô khung cửa, như cái hôm mùng Một nhìn cánh tay quấn băng. Ngoài hẻm, đèn đường dưới gốc sung vàng vọt. Từ sân bà Mười, tiếng trống đã dừng. Có tiếng con nít cười, tiếng chú Sáu Mỡ la, tiếng dép lẹp xẹp. Thuận Phong đang dọn đồ về.
– Thằng kỹ sư. – Ông Thuận nói, giọng nhỏ, không phải giọng của người ngồi bên bàn trà.
– Dạ.
– Cái chân con nhỏ. Mày thấy chưa?
Xán đứng sững trên bậc cửa.
– Dạ thấy. – Anh nói. – Chân trái. Từ tối Thứ Năm tuần trước.
– Nó nói với ai chưa?
– Dạ chưa. Con hỏi, cô ấy không cho con nói. Con hứa không nói.
Ông Thuận gật đầu, chậm.
– Mày hứa thì mày giữ. – Ông nói. – Mà mày coi nó.
– Dạ. Con coi.
Ông Thuận đứng im. Ông nhìn ra cuối hẻm, chỗ một nhóm người áo đỏ đang khiêng trống, khiêng đầu lân đi về dưới đèn đường. Tiệp đi giữa nhóm người đó. Từ xa, dưới đèn vàng, Xán thấy cô đi đều, cố đi đều, chân trái đặt xuống nhẹ hơn chân phải một chút xíu, cái chút xíu mà người không để ý thì không bao giờ thấy.
– Nó giấu. – Ông Thuận nói, nhỏ, như nói với cái khung cửa. – Giống ba nó.
Rồi ông quay vô, đóng cửa.
Xán đứng một mình trên bậc cửa nhà số 47, cái miệng còn đắng vị trà nguội.
Giống ba nó. Ba nó giấu.
Anh nhìn cánh cửa gỗ vừa đóng, nhìn cái cửa sổ buồng ông Lực đã tắt đèn. Anh nhớ anh Hai Cò. "Chú Lực đứng thẳng lên, chùi miệng, cười. Anh Hai, trúng gió chút xíu, anh đừng nói với ông Thuận nghe."
Ở cuối hẻm, Tiệp nhìn thấy anh đứng trước cửa nhà mình. Cô dừng lại dưới gốc sung, giơ tay lên vẫy một cái, cái vẫy tay nhỏ như hỏi "sao rồi". Cô cười.
Xán đứng nhìn cô cười, đứng nhìn cái chân trái của cô đặt xuống nền hẻm, nhẹ hơn chân phải một chút xíu.
Lần đầu tiên trong đời anh hiểu cái mà ba anh thấy, trên cây cọc hai mét tám, ngay trước khi ba anh buông một tay ra khỏi hông người đứng trên vai mình.
— Hết chương 26 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe