AI Truyện
Dừng tháp Bốn ở đầm Bến Cò

💞 Ngôn tình

Trung thu trên đồi cát

Dừng tháp Bốn ở đầm Bến Cò · Chương 8/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 8: Trung thu trên đồi cát

Con rẽ giun gãy cánh được bà Rỡ đặt tên là thằng Lép.

– Nó lép xẹp như cái bánh tráng. – Bà nói, ngồi chồm hổm trước cái lồng tre Hạc mượn của ông Chín, tay cầm cọng cỏ khều khều. – Mà mắt nó lanh. Coi nó nhìn tui kìa.

Thằng Lép nhìn bà Rỡ thật. Cái mỏ dài và thẳng của nó gõ nhẹ vào nan lồng, cánh phải bó nẹp bằng hai que tre với băng keo y tế, cánh trái thỉnh thoảng giật lên như muốn bay. Mười tám ngày nay, ngày nào Hạc cũng thay nước, bỏ trùn đất Linh đào ngoài bờ ruộng vào lồng. Con chim ăn khoẻ dần, kêu to dần. Bà Rỡ bắt đầu nói chuyện với nó mỗi sáng trước khi ra ruộng muối, như nói chuyện với con Lu.

Chiều rằm tháng Tám, cả xóm muối dọn sân.

Nhà nào có trẻ con thì treo lồng đèn trước hiên: lồng đèn ông sao giấy kiếng đỏ, lồng đèn con cá chép làm bằng lon sữa bò đục lỗ, lồng đèn cá mè dán giấy bóng màu. Bà Rỡ không có cháu, nhưng năm nào bà cũng mua một mâm bánh, bày ra hiên mời trẻ con trong xóm vào ăn. Bánh nướng nhân đậu xanh, bánh dẻo nhân thập cẩm, một dĩa bưởi bóc sẵn, một dĩa chuối. Hạc giúp bà cắt bánh thành từng miếng nhỏ, cắm tăm.

– Hồi nhỏ thằng Thoại khoái lồng đèn lắm. – Bà Rỡ nói, tay xếp bánh. – Ba nó làm cho nó cái lồng đèn hình con cò, bằng tre với giấy dầu, cánh nó vẫy được. Cả xóm đứa nào cũng ham. Ba nó mất rồi, nó không rước đèn nữa.

Hạc dừng dao. Bà Rỡ vẫn xếp bánh.

– Năm nay nó về. Lâu rồi nó mới về đúng bữa rằm.

Thoại về lúc năm giờ chiều, trên yên sau buộc một bao bắp. Anh mua ở chợ xã, hai chục trái, nói là để nướng cho trẻ con. Không ai hỏi vì sao một người đàn ông ba mươi ba tuổi chưa vợ lại đi mua bắp nướng cho trẻ con hàng xóm. Bà Rỡ chỉ cười, bảo anh ra sau nhóm lò than.

Trời chạng vạng, trẻ con bắt đầu kéo tới. Đứa nào cũng cầm lồng đèn, đứa nào cũng chân đất, đứa nào cũng hét. Có một con bé chừng sáu tuổi, tóc buộc hai chỏm, cầm một cái lồng đèn lạ hoắc. Một cái cột tre cao bằng nó, trên đỉnh gắn ba cánh quạt bằng giấy cứng. Bên trong cái hộp giấy ở đầu cột có ngọn nến nhỏ. Mỗi lần nó chạy, ba cánh quạt quay tít.

– Bé Sương! – Bà Rỡ gọi. – Ba con làm hả?

– Dạ! Ba con làm cái tháp gió! – Con bé giơ cao cái lồng đèn. – Mà ba con nói nó không có đèn đỏ trên đầu, vì đèn đỏ để máy bay thấy, mà máy bay không bay thấp vậy!

Lợi đứng ở cổng, vợ anh bên cạnh, cười ngượng.

– Con nhỏ đòi hoài. Em làm đại.

Hạc nhìn cái lồng đèn hình tháp gió quay trong tay con bé, rồi nhìn Lợi. Anh đứng ở cổng nhà bà Rỡ, lưng quay về phía đầm, như mọi lần cô gặp anh. Cô nhớ cái cách anh nói em không ra đầm, rồi chui vào trong nóc tháp.

Bắp nướng xong, Thoại bưng ra một rổ, mùi thơm cháy cạnh lan khắp sân. Trẻ con nhào vô. Anh đưa từng trái, đứa nào cũng được một trái, đứa nhỏ nhất được trái to nhất. Rồi anh lấy trong túi áo ra cái hộp thiếc muối ớt, mở nắp, đi một vòng cho đứa nào muốn chấm thì chấm. Phân nửa đám trẻ chấm, phân nửa còn lại la oai oái vì cay.

Tới chỗ Hạc, anh dừng lại.

– Cô ăn cay được không? Người Quảng Bình, má tôi nói.

– Được.

– Muối này cay hơn bữa cơm.

– Tôi ăn được.

Anh đưa cho cô một trái bắp, chìa hộp muối ra. Cô chấm. Cay thật. Cay tới mức chảy nước mắt, phải ngửa cổ lên trời mà thở. Trên trời, trăng rằm vừa nhô lên khỏi mặt biển, to và vàng như một cái mâm đồng.

– Tôi nói rồi. – Anh nói.

– Anh nói cay hơn. Anh không nói cay tới vậy.

Thoại cười. Lần thứ hai cô thấy anh cười.

Tám giờ, trẻ con rước đèn ra đầu xóm, người lớn lục tục theo sau. Bà Rỡ ngồi lại với mấy bà hàng xóm, uống trà, nói chuyện giá muối năm nay. Thoại đứng dậy, phủi tay.

– Tôi đi kiểm tháp. Cô đi không?

– Kiểm gì?

– Kiểm coi trăng lên có đẹp không.

Hạc nhìn anh. Mặt anh nghiêm như mọi khi. Cô đứng dậy.

Họ đi lên đồi cát phía sau xóm, chỗ không có đường mòn, chỉ có cát và mấy bụi cỏ lông chông bạc trắng dưới trăng. Cát mát lạnh dưới chân. Gió từ biển thổi vào, đã không còn cái nóng ban ngày. Trên đỉnh đồi, thế giới mở ra: đầm Bến Cò như một tấm gương bạc lớn, mười hai cái tháp đứng thành hàng, cánh quay chậm trong gió đêm, mỗi vòng quay lại hắt lên một vệt trăng sáng loáng. Đèn đỏ trên đỉnh tháp chớp đều.

Hai người ngồi xuống cát, cách nhau một khoảng vừa đủ để không chạm vai.

– Cô biết không, – Thoại nói, – hồi chưa có tháp, đứng đây nhìn xuống chỉ thấy đầm với ruộng muối. Tối thì đen thui. Giờ có cái đèn đỏ chớp. Lần đầu về, tôi đứng đây, tôi thấy như có ai thắp hương trên đồi.

– Anh kể vậy cô Sáu nghe chắc buồn.

– Má tôi nói giống y vậy. Má tôi nói, mười hai cây hương, thắp cho ai không biết.

Hạc im. Cô nghĩ tới câu ông Chín nói hôm đó, dưới hiên nhà, trong bóng tối. Ba nó chết là tại tui. Mười tám ngày nay câu đó nằm trong cô như một hòn sỏi trong giày.

– Anh Thoại.

– Sao?

– Ba anh mất thế nào?

Cô hỏi xong mới thấy mình hỏi. Cô định rút lại câu hỏi. Nhưng Thoại không có vẻ giật mình. Anh nhìn ra mặt đầm bạc, như thể câu trả lời nằm ngoài đó.

– Năm hai nghìn lẻ bốn. Đêm mười bốn tháng Mười âm lịch. Tôi mười hai tuổi. – Anh nói, giọng đều đều, như đọc lại một văn bản đã đọc cả trăm lần. – Ba tôi giăng lưới bắt chim, chung với ông Chín. Hai người làm chung từ hồi còn trẻ. Chiều hôm đó đài báo bão vào sáng hôm sau. Ba tôi nói phải ra gỡ lưới trước bão, không thì mất lưới, mà lưới là tiền vay. Ông Chín đi chung. Tới tối, gió nổi sớm hơn đài báo. Nước lên nhanh. Ông Chín về. Ba tôi không về.

Gió thổi qua đồi, làm mấy bụi cỏ lông chông lăn lăn trên cát.

– Ba ngày sau người ta tìm thấy ba tôi ngoài cửa biển. – Anh nói. – Ông Chín nói nước lên nhanh quá, ổng kêu mà ba tôi không nghe. Tôi mười hai tuổi, tôi đứng sau cái bàn thờ, tôi nghe vợ ông Chín nói với má tôi, "ổng hoảng quá, ổng chạy". Ổng chạy. Ba tôi ở lại.

– Cô Sáu có trách chú Chín không?

– Má tôi nói biển nó lấy, ai cản được. – Thoại nhặt một nắm cát lên, để nó chảy qua kẽ tay. – Má tôi không trách. Tôi trách.

Hạc ngồi im. Hòn sỏi trong giày cô giờ nặng như một hòn đá. Cô biết một câu mà anh không biết. Ba nó chết là tại tui. Ông Chín nói câu đó với cô, một người lạ, mà không nói với anh. Cô không biết câu đó nghĩa là gì: là ông Chín thú nhận đã bỏ chạy, hay là một điều gì khác. Cô chỉ biết đó không phải câu của cô để nói ra. Ông Chín đã nói với cô trong bóng tối. Ông đã tắt đèn trước khi nói.

– Tôi xin lỗi. – Cô nói. – Tôi không nên hỏi.

– Cô hỏi thì tôi nói. – Anh phủi tay. – Người ta không hỏi thì tôi không nói. Hai chục năm nay không ai hỏi.

– Vì sao?

– Vì ai ở xóm này cũng biết rồi. – Anh nhún vai. – Hỏi chi nữa.

Họ ngồi một lúc lâu không nói gì. Trăng lên cao hơn, nhỏ lại, trắng lại. Mười hai cái tháp vẫn quay. Dưới đầm, nước đang lên, và bãi bùn bờ bắc từ từ chìm xuống dưới mặt gương bạc. Bầy choắt chân đỏ, chắc giờ đã ngủ trên những gò cát cao giữa đầm, chỗ nước không lên tới.

– Cô ở đây một năm. – Thoại nói.

– Đúng hợp đồng.

– Rồi đi.

– Rồi đi.

Anh không nói gì thêm. Cô cũng không. Nhưng cái im lặng lần này khác. Nó không lạnh như cái im lặng ở mâm cơm tối thứ Bảy, khi ông Chín đi ngang ngõ. Nó ấm, và nặng, và có cái gì đó đứng đợi bên trong, như một con chim đậu trên bờ, chưa quyết định bay hay ở.

Hạc nghĩ: nếu anh nói thêm một câu, chỉ một câu thôi, có lẽ cô sẽ không biết trả lời thế nào.

Thoại quay sang nhìn cô. Ánh trăng chiếu lên nửa mặt anh. Anh mở miệng.

Điện thoại trong túi áo cô rung.

Hai người cùng nhìn xuống. Màn hình sáng lên, tên Linh. Cô định không nghe. Rồi cô nhớ ra chiều nay cô đã giao cho Linh một việc, và Linh không phải đứa gọi điện lúc chín giờ tối ngày rằm vì chuyện không đâu.

– Chị Hạc! Chị đang ở đâu? – Giọng Linh to, gấp, lẫn tiếng trẻ con rước đèn đằng xa.

– Chị ở trên đồi. Sao em?

– Chị kêu em đọc hết phụ lục báo cáo của chị Trâm, ba trăm mười hai trang đó. Em đọc hết rồi. Em ngồi ở góc hiên đọc từ chiều tới giờ, bỏ cả bánh.

– Rồi sao?

– Chị nhớ chị Trâm nói tìm xác mười bốn ngày một lần không? Trong phụ lục có biểu mẫu hiện trường, mỗi tháng một tờ tổng hợp, ghi ngày từng đợt đi tìm. Hai năm, hai mươi bốn tờ. – Linh ngừng lại một chút, như đang lật trang. – Tháng nào cũng chỉ có hai đợt. Có tháng chỉ một đợt.

– Chị biết rồi. Ghi lại đi, mai chị coi.

– Không phải. Không phải cái đó. – Giọng Linh nhỏ lại, gần như thì thầm, như sợ có ai nghe. – Chị ơi, tờ nào cũng có một ô ở trang cuối. Ô đó ghi "Xác nhận số liệu hiện trường của đơn vị vận hành". Có ký tên.

Hạc ngồi im. Cô không nhìn sang bên cạnh. Nhưng cô cảm thấy Thoại đang nhìn cô, chờ.

– Ai ký?

Đầu dây bên kia im một lúc. Tiếng trẻ con xa xa hát bài rước đèn, lạc giọng, vui vẻ.

– Hai mươi bốn tờ, chị. – Linh nói. – Tờ nào cũng là chữ ký của anh Thoại.

— Hết chương 8 —

Mục lục Dừng tháp Bốn ở đầm Bến Cò

  1. 1Mười một lần dừng tháp Bốn12 phút đọc
  2. 2Ông già vác lưới11 phút đọc
  3. 3Mâm cơm tối thứ Bảy11 phút đọc
  4. 4Hai bộ số12 phút đọc
  5. 5Bốn mươi con chim cút11 phút đọc
  6. 6Người leo tháp12 phút đọc
  7. 7Lưới tàng hình10 phút đọc
  8. 8Trung thu trên đồi cát10 phút đọc
  9. 9Chữ ký ở trang cuối10 phút đọc
  10. 10Một ngày của Thoại11 phút đọc
  11. 11Mười bốn ngày và hai ngày11 phút đọc
  12. 12Đêm áp thấp ở chòi quan sát11 phút đọc
  13. 13Mái nhà ông Chín10 phút đọc
  14. 14Bảy triệu một giờ11 phút đọc
  15. 15Ghen10 phút đọc
  16. 16Hai mươi ba tháng Chạp10 phút đọc
  17. 17Giao thừa ở chòi số Một11 phút đọc
  18. 18Tấm ảnh12 phút đọc
  19. 19Ba cái tên trong một phong bì12 phút đọc
  20. 20Người thay thế11 phút đọc
  21. 21Nha Trang không có gió11 phút đọc
  22. 22Đơn xin thôi việc chưa nộp12 phút đọc
  23. 23Trà đá năm nghìn10 phút đọc
  24. 24Phiên hội đồng thứ nhất10 phút đọc
  25. 25Ghi chú cuối bảng số liệu10 phút đọc
  26. 26Giường số chín10 phút đọc
  27. 27Đêm năm hai nghìn lẻ bốn11 phút đọc
  28. 28Lạch Ông Lành10 phút đọc
  29. 29Lời khai của người leo tháp10 phút đọc
  30. 30Bản đồ mới11 phút đọc
  31. 31Cờ chân màu nõn chuối10 phút đọc
  32. 32Hai mươi bốn giờ trước phiên họp10 phút đọc
  33. 33Phiên hội đồng cuối10 phút đọc
  34. 34Một năm hợp đồng10 phút đọc
  35. 35Đếm giùm anh10 phút đọc
  36. 36Muối mùa mới10 phút đọc

Về truyện này

Dừng tháp Bốn ở đầm Bến Cò là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →