Chương 36: Muối mùa mới
– Con Hạc đếm cò đó hả? Ra đây ba coi. Ốm hay mập?
Ông Kiều Văn Đạt đứng giữa sân nhà bà Rỡ lúc bốn giờ chiều hai mươi tám tháng Chạp. Cái túi xách du lịch trên vai, cái nón tai bèo trên đầu, da ông đen như đất nung y hệt người con rể tương lai mà ông chưa gặp mặt lần nào. Bên cạnh ông, bà Đoàn Thị Lụa ôm một cái giỏ to gần bằng cái giỏ nhựa bà Rỡ mang ra Nha Trang hồi tháng Tư. Trong giỏ có hai hũ ruốc, một bọc bánh lọc lá, một chai nước mắm Quảng Bình và một nồi nhôm bọc ba lớp khăn mà Hạc biết, không cần mở, là cháo canh.
Họ đi xe khách hai ngày từ Đồng Hới vào. Ba cô nói đi tàu hoả thì nhanh hơn, mà ngồi tàu không ngắm được biển.
Bà Rỡ đi ra từ bếp, tay còn cầm đôi đũa cả. Hai người mẹ đứng nhìn nhau giữa sân, cách nhau ba bước, giữa những bao muối trắng xếp dọc hiên. Rồi bà Rỡ nói:
– Chị ăn được cay hông?
– Người Quảng Bình, chị. – Mẹ Hạc nói.
Bà Rỡ cười lớn, vỗ vai mẹ cô một cái.
– Vậy được.
Thoại về lúc sáu giờ. Con Lu nghe tiếng xe từ đầu ngõ đã vọt ra, sủa ba tiếng, rồi im bặt. Anh dựng xe, tháo mũ bảo hiểm, thấy ông Đạt đứng ở hiên, khựng lại một nhịp, rồi đi tới, cúi đầu thật thấp.
– Dạ, con chào chú. Con là Thoại.
Ông Đạt nhìn anh từ đầu xuống chân, như nhìn một cái máy tàu mới về, chưa biết chạy được hay không.
– Thợ máy hả?
– Dạ, kỹ sư điện. Quản lý vận hành mấy cái tháp gió.
– Tháp gió thì cũng là máy. – Ông Đạt nói. – Máy gió với máy tàu, cái nào khó?
Thoại nghĩ một chút, nghiêm túc như đang đọc biên bản.
– Dạ, máy tàu khó hơn. Máy tàu ở giữa nước.
Ông Đạt nhìn anh thêm một lúc. Rồi ông cười, cái cười to, ồm ồm, lẫn tiếng sóng ngoài Nhật Lệ, vỗ vai anh hai cái.
– Thằng này được. Nó biết nước khó.
Đêm hai mươi chín tháng Chạp, cũng là đêm giao thừa, vì năm nay tháng Chạp lại thiếu, không có ngày ba mươi.
Mâm cơm cúng ông bà dọn trên bộ ván ngoài hiên, dài hơn mọi năm, phải ghép thêm một tấm phản mượn của ông Chín. Bánh tét bà Rỡ gói, bánh tét Hạc gói, thẳng, chỉ hơi phình một đầu. Thịt kho trứng. Dưa món. Cá nục kho tiêu. Cháo canh của mẹ Hạc, hâm lại, thơm mùi hành phi và tiêu. Ruốc Quảng Bình. Và hai cái hộp thiếc đặt cạnh nhau giữa mâm: một cái nắp vẽ hoa mai tróc sơn, một cái nắp sơn xanh.
Ông Chín ngồi ở đầu phản, cây gậy tre dựa vào cột. Ông đã khoẻ lại nhiều, lưng vẫn gù, nhưng hai má không còn hóp. Lợi ngồi cạnh cha. Út Thắm ngồi cạnh Lợi. Bé Sương ngồi giữa ông nội và bà Rỡ, má hồng, nói không ngớt, vết mổ trên ngực đã thành một đường mảnh như sợi chỉ. Con bé đòi ngồi cạnh "chú Gió", vì Linh đã dạy nó cái tên đó qua điện thoại, và không ai sửa lại được.
Linh gọi video từ Buôn Ma Thuột lúc chín giờ. Con bé đã bảo vệ xong luận văn, đạt loại giỏi, vừa nhận việc ở một phòng thí nghiệm sinh thái ở Đà Lạt, chính cái nhóm đang giám sát đầm Bến Cò. Nó nói tháng Ba nó xuống làm, nó sẽ ngồi chòi số Một, nó sẽ gọi dừng tháp.
– Anh Gió ơi! – Linh hét qua màn hình. – Em gọi dừng thì anh phải dừng nghen!
– Sáu mươi giây. – Thoại nói.
– Bốn mươi thôi! Em biết rồi! Anh Tý nói bốn mươi!
Thầy Bỉnh nhắn lúc mười giờ, không dấu, không xuống dòng. Chị Trâm nhắn từ một vùng cửa sông miền Bắc, gió lạnh, kèm một tấm ảnh chị đứng giữa bãi bùn, tay cầm cây thước nhựa. Chị Nhạn gửi một tấm thiệp điện tử có hình con chim nhạn, ký tên đầy đủ, có cả chức vụ.
Mười một giờ năm mươi, Thoại không lên chòi.
Anh ngồi ở bậc thềm, cạnh cô, nhìn lên đồi cát. Mười hai ngọn đèn đỏ chớp đều. Xa hơn, sau dãy đồi cát thứ hai, có bốn cái móng bê tông mới đổ, còn trơ cốt thép, chưa có ngọn đèn nào. T17, T18, T19, T20. Cách mép bãi tám trăm mét.
Cái bộ đàm trên đùi anh rè lên.
– Phòng điều khiển. – Giọng anh Tý. Anh lại xin trực đêm giao thừa, lại nói ở nhà vợ bắt đi chúc Tết họ hàng, anh thà ngồi với cái máy. – Sếp. Năm nay có dừng tháp Bốn một phút không sếp?
Thoại nhìn Hạc. Hạc nhìn lên đồi. Cánh tháp Bốn đang quay đều trong gió đông bắc, vút qua đỉnh, mỗi vòng hắt lên một vệt sáng đỏ mờ.
– Không. – Cô nói, trước khi anh kịp trả lời. – Để nó quay. Năm nay gió làm việc.
Thoại bấm nút.
– Không dừng, anh Tý. Người giám sát cũ nói để gió làm việc.
– Ghi nhận. – Anh Tý nói. Rồi thêm: – Chúc mừng năm mới, sếp. Chúc mừng năm mới, chị Hạc.
Phía Phan Rang, đường chân trời ửng lên. Những bông pháo hoa nhỏ xíu nở ra rồi tắt, không có tiếng, như hoa nở trong một cái bể cá ở xa. Trên đồi cát, mười hai cái tháp vẫn quay. Không cái nào đứng.
Sáng mùng Một, bà Rỡ dậy lúc bốn giờ rưỡi, như mọi ngày.
Bà ra ruộng muối, ba người đàn bà đi theo: Hạc, mẹ Hạc, Út Thắm. Đàn ông đi sau, ông Đạt, ông Chín chống gậy, Lợi, Thoại. Bé Sương chạy trước, con Lu chạy theo bé Sương, con Mực chạy theo con Lu.
Mùa muối mới đã bắt đầu từ tháng Chạp. Những ô ruộng được dọn lại sau mùa mưa, nền nện chặt, nước biển dẫn vào qua những con mương nhỏ. Ô đầu tiên, ô gần nhà nhất, đã kết tinh một lớp hạt trắng dưới đáy, óng ánh như kim cương vụn dưới trời sáng xám.
Bà Rỡ cầm cây cào gỗ, bước xuống ô ruộng. Bà đẩy cào một đường. Muối kêu lạo xạo. Rồi bà cúi xuống, vốc lên một nắm muối đầu năm, còn ướt nước biển, lấp lánh.
– Muối đầu năm. – Bà nói. – Ai lấy thì lấy một nhúm, bỏ túi. Cả năm không lạt.
Mỗi người lấy một nhúm. Ông Đạt bỏ vào túi áo. Mẹ Hạc bỏ vào khăn tay. Bé Sương nếm thử, nhăn mặt, rồi cười. Ông Chín cầm nhúm muối trong lòng bàn tay rất lâu, nhìn ra phía đầm, rồi bỏ vào túi áo bà ba, vỗ nhẹ lên túi hai cái.
Thoại lấy một nhúm, không bỏ túi. Anh rắc nó vào cái hộp thiếc nắp vẽ hoa mai trong tay Hạc, hộp muối của anh, giờ là của cô.
– Cho em mang về Cà Mau. – Anh nói.
– Em đã có cả bịch.
– Bịch là muối năm cũ. Cái này năm mới.
Trưa mùng Một, cô mở cái hũ.
Cái hũ nhựa đựng kẹp giấy đã đi một vòng dài. Từ cái bàn gỗ trên chòi số Một, tới bàn làm việc của Thoại chiều mưa tháng Mười, rồi về chòi. Rồi tới Nha Trang trong cái giỏ của bà Rỡ, rồi tới Cà Mau trong ba lô của cô, rồi về đây. Nắp hũ có hai dòng chữ. Dòng tròn nghiêng: "Tiền trà. Nợ: 0". Dòng in hoa thẳng hàng: "NỢ CŨ CHƯA TÍNH HẾT".
Cả nhà ngồi quanh bộ ván. Hạc đổ tiền ra.
Những tờ năm nghìn cũ, mới, nhàu, phẳng. Tờ hai mươi nghìn công đi chợ chim cút. Tờ mười nghìn và tờ năm nghìn kẹp mẩu giấy "Tiền thối đi chợ". Một mẩu giấy nhỏ khác, chữ in hoa của anh, cô không biết anh bỏ vào hồi nào: "BÁNH CĂN. NỢ 1.500Đ." Một mẩu giấy nữa, chữ của chị Nhạn, chắc chị đã nhờ ai bỏ vào lúc nào đó: "Bà Hạc ghi nợ 5.000đ, ngày 23/7. Đã ghi vào hồ sơ."
Hạc đếm. Thoại đếm lại. Ông Đạt, người cả đời ngồi tính dầu tính lưới với chủ tàu, đếm lần thứ ba.
– Ba trăm bốn mươi lăm nghìn. – Ông Đạt nói. – Tiền trà một năm của con Hạc. Rồi sao? Ai nợ ai?
Hạc với Thoại nhìn nhau.
– Em nợ anh một chai trà ngày hai mươi ba tháng Bảy. – Cô nói.
– Anh nợ em ngàn rưỡi tiền bánh căn.
– Em nợ anh công đi chợ chim cút. Năm nghìn là bất công.
– Anh nợ em mười sáu ngày. – Anh nói. – Không tính bằng tiền được.
– Em nợ anh hai mươi bốn chữ ký...
– Cái đó anh nợ người ta.
Bà Rỡ gõ đũa vào thành nồi cái cạch.
– Thôi! Hai đứa bây tính tới mùng Mười cũng không hết. – Bà nói. – Tui làm muối bốn chục năm. Có năm gió dữ, có năm mưa sớm. Tui có bao giờ tính hết nợ với trời đâu. Bỏ tiền vô lại.
Hạc nhìn bà. Rồi cô bỏ tiền vô lại. Từng tờ, ngay ngắn, cả mấy mẩu giấy. Cô lấy cây bút dạ trong ba lô, cây bút cô vẫn dùng để ghi nhãn túi đựng xác chim. Cô viết lên nắp hũ, dòng thứ ba, bên dưới hai dòng cũ.
Chữ tròn, nghiêng sang trái, kiểu chữ của người viết nhanh mà vẫn muốn người khác đọc được.
"Tiếp tục."
Thoại nhìn chữ đó. Anh không nói gì. Khoé miệng anh động đậy.
Chiều mùng Một, hai người đi bộ lên đồi cát.
Cát mát dưới chân. Cỏ lông chông lăn tròn trên mặt đồi như những trái banh gai. Mấy bụi xương rồng thấp lè tè đang trổ hoa vàng. Lên tới chòi số Một, cậu nghiên cứu viên trẻ đeo kính của nhóm Đà Lạt đang trực, ống nhòm trên mắt. Cậu gật đầu chào, rồi quay lại làm việc.
Hạc đặt cái hũ lên cái bàn gỗ ọp ẹp. Đúng chỗ cũ, đúng cái vệt tròn nhạt màu nó đã để lại, giờ đã nhạt tới mức chỉ người biết mới thấy. Cô không đậy gì lên nó. Không cần.
Hai người đứng ở mép chòi, nhìn xuống. Nước đang lên. Bãi bùn bờ bắc chìm dần dưới mặt nước bạc. Bầy choắt chân đỏ đang ăn ở bãi trong bắt đầu xao động. Ở đâu đó giữa đám rẽ giun, có lẽ, có một con chim nhỏ bằng nắm tay, mỏ như cái thìa, chân trái có cờ xanh. Cô không đưa ống nhòm lên tìm. Hôm nay cô không đếm.
Bầy choắt cất lên. Cả trăm con một lượt, lật nghiêng là bụng trắng loé lên dưới nắng chiều, lật lại là lưng nâu chìm vào màu bùn. Chúng bay thấp, hướng về khoảng giữa tháp Ba và tháp Bốn.
Cậu nghiên cứu viên trẻ cầm bộ đàm lên. Giọng cậu hơi run, như người mới gọi lần thứ mấy.
– Phòng điều khiển, chòi số Một gọi. Dừng tháp Bốn.
Bộ đàm rè một lúc, như người bên kia đang nuốt dở miếng bánh tét. Rồi một giọng đàn ông đều đều, không lên không xuống:
– Tháp Bốn đang dừng. Bốn mươi giây.
Trên đồi cát, cái tháp gần đầm nhất xoay cánh ra khỏi gió. Vòng quay dãn ra, dãn ra, tới lúc đếm được từng cánh lướt qua đỉnh. Bầy chim bay qua khoảng trống giữa hai cánh, rồi hạ xuống phía bãi bùn bên kia, như một nắm hạt vãi ra trên mặt đầm đang đầy nước.
Thoại đứng cạnh cô, một tay đút túi quần, nơi có chùm chìa khoá với cái cờ chân xanh nõn chuối khắc H8, sợi dây đỏ thòng ra ngoài. Tay kia nắm tay cô.
Cô không đếm. Anh thì đếm, khẽ, dưới hơi thở, như người đọc to một câu thuộc lòng.
Một. Hai. Ba.
— Hết —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe