Chương 31: Cờ chân màu nõn chuối
– Không phải H7. – Hạc nói.
Cô nói câu đó trước khi Linh kịp hỏi, trước khi cô kịp hạ ống nhòm xuống, như người ta nói vội một câu để tự mình khỏi hy vọng.
Cái cờ chân trên chân con choắt có màu xanh nõn chuối. Đúng cái màu đó. Màu của cái cờ nhỏ xíu cô đã run tay gắn ba lần mới được, trên bãi bồi Cồn Ngạn năm hai nghìn mười chín, trời lạnh muốn rụng tay. Màu của cái cờ dự phòng xỏ dây đỏ đã nằm trên chùm chìa khoá của cô sáu năm, giờ nằm trên chùm chìa khoá xe của một người khác.
Nhưng con chim đứng một chân trên bãi bùn kia không phải rẽ mỏ thìa. Nó là một con choắt lớn, cao gấp ba lần con chim bằng nắm tay kia, mỏ dài hơi cong lên, chân xanh xám. Và cái cờ không nằm trên chân trái.
– Màu cờ cho biết chim được gắn ở vùng nào. – Hạc nói, giọng đã bình thường lại. – Mỗi chương trình đeo cờ một màu. Màu nõn chuối là của chương trình ở Cồn Ngạn. Chỗ con H7. Con này cũng từ đó.
– Cùng nhà với H7 hả chị?
– Cùng trạm. – Hạc nói. Rồi cô nghĩ một chút. – Ừ. Cùng nhà.
Cô dựng kính viễn vọng một mắt lên chân ba càng, chỉnh tiêu cự. Gió tây nam cấp ba, nắng chiều nghiêng, rất khó đọc. Con choắt cứ cúi xuống mổ bùn rồi ngẩng lên, cái chân co lại rồi duỗi ra. Mười phút. Hai mươi phút. Cô đọc được một chữ cái. K. Số sau bị bùn che.
Sáng hôm sau, Thoại lên chòi.
Anh không lên một mình. Theo đúng điều kiện của hội đồng, mỗi lần anh lên chòi thì chị Nhạn có mặt. Chị Nhạn ngồi trên cái ghế nhựa thứ ba, cái ghế Linh mang từ nhà bà Rỡ lên, bình nước giữ nhiệt trên đùi, cuốn sổ bìa cứng mở sẵn. Anh mang theo một chai trà đá. Một chai. Anh đặt lên bàn, cạnh bình nước hai lít của cô.
Hạc nhìn chai trà. Cô móc túi áo, rút ra một tờ năm nghìn, rồi nhớ ra cái hũ đang nằm trên kệ sách ở Nha Trang. Cô cầm tờ tiền trên tay, không biết bỏ vào đâu.
– Em ghi nợ. – Anh nói.
– Ghi vô đâu?
– Vô nắp hũ. Nắp hũ còn chỗ.
Chị Nhạn ghi một dòng. Hạc liếc sang. Chị ghi: "8 giờ 10. Ông Thoại mang lên một chai trà đá. Bà Hạc ghi nợ năm nghìn đồng." Hạc phải quay mặt đi.
– Em dạy anh đọc cờ đi. – Thoại nói.
Cô dạy anh như dạy Linh hồi tháng Chín. Đầu tiên là màu. Rồi là vị trí: trên khớp hay dưới khớp, chân trái hay chân phải. Rồi mới tới chữ và số khắc trên cờ. Mỗi thứ cho biết một điều. Màu cho biết trạm. Vị trí cho biết năm gắn hoặc loại chương trình. Chữ số cho biết con nào.
– Giống số tháp. – Anh nói. – T4 là tháp Bốn, khu một, giai đoạn một.
– Giống số tháp. – Cô nói. – Mà tháp thì đứng yên cho anh đọc.
Anh cúi xuống kính viễn vọng. Con choắt lớn vẫn ở đó, giữa đám choắt non, đang ăn. Anh nhìn rất lâu. Lâu như hôm trên nóc tháp Bốn nhìn tấm lưới tàng hình ở góc tây đầm. Chị Nhạn cũng ngẩng lên khỏi cuốn sổ, nhìn cái lưng áo đồng phục của anh cúi trên ống kính.
– K. – Anh nói. – Rồi một cái gì cong. Ba. Hay tám.
– Anh chắc không?
– Không chắc. – Anh nói. – Ba, tám, hay số không bị bùn dính.
– Vậy ghi "K3 hoặc K8, chưa chắc".
– Ghi vậy được hả?
– Được. – Cô nói. – Nghề này ghi "chưa chắc" nhiều hơn ghi "chắc". Ai ghi "chắc" hết là người đó không đi hiện trường.
Anh ghi vào cuốn sổ thực địa của cô, chữ in hoa thẳng hàng. Chị Nhạn ghi vào cuốn sổ của chị. Hai cái sổ, hai nét chữ, cùng một dòng.
Ngày thứ ba, anh đọc ra được. Cô không giúp. Anh ngồi một mình ở kính viễn vọng gần bốn mươi phút, cho tới khi con choắt lớn đứng yên trên một gò bùn khô, chân duỗi thẳng, nắng chiếu ngang.
– K3. – Anh nói. – Chắc.
Hạc cúi xuống kính, nhìn. K3. Chắc.
Cô nhắn cho thầy Bỉnh ở Hà Nội. Thầy trả lời sau hai tiếng, không dấu, không xuống dòng: "K3 gan thang muoi nam 2020 o Con Ngan. Con ghi so hom do. Thay con giu ban chup trang so. Chu cua con." Rồi thầy gửi kèm một tấm ảnh chụp một trang sổ thực địa cũ, ố vàng, dòng chữ tròn nghiêng sang trái: "K3. Choắt lớn. Trưởng thành. Cánh 186 mm. Thả 7 giờ 40."
Hạc nhìn tấm ảnh rất lâu. Mùa thu năm hai nghìn hai mươi, một năm sau con H7, cô quay lại Cồn Ngạn làm thêm một mùa tình nguyện. Cô nhớ những buổi sáng sương muối, nhớ cái bàn gỗ ướt nơi cô ngồi ghi sổ cho người gắn cờ, nhớ đã ghi hàng trăm dòng như vậy. Cô không nhớ con K3. Nó thì vẫn bay, sáu năm, từ đó tới đây. Cô đưa điện thoại cho Thoại. Anh đọc, rồi đưa lại cho cô, không nói gì. Nhưng tối đó, ở ô cuối cột G trong bảng số liệu gió gửi văn phòng hội đồng, anh ghi: "Gió tây nam cấp ba. Ghi chú chuyên môn: K3, choắt lớn, trạm Cồn Ngạn, gắn 10/2020, người ghi sổ: K.T.Hạc. Đọc được ngày thứ ba."
Ông Nghị không trả lời. Chị phó văn phòng trả lời hai chữ: "Đã nhận." Rồi thêm một dòng: "Chúc mừng con K3."
Những ngày đó, cô ở lại nhà bà Rỡ.
Không phải căn phòng có cái máy bay lon bia. Bà Rỡ đã dọn căn phòng nhỏ phía trước, chỗ để lúa và mấy bao muối, kê thêm một cái giường. "Phòng của thằng Thoại là phòng của thằng Thoại", bà nói, rồi không giải thích thêm. Hạc hiểu. Chị Nhạn ở nhà nghỉ đầu xã, nhưng chiều nào bà Rỡ cũng giữ chị lại ăn cơm. Tới ngày thứ năm, chị Nhạn đã gọi bà Rỡ là "chị Sáu", đã học cách lặt rau muống theo kiểu bà, đã ăn được muối rang ớt mà không chảy nước mắt.
– Cô Nhạn này ăn khoẻ. – Bà Rỡ nói với Hạc, giọng đầy hài lòng. – Không như con, ăn như con chim.
– Em tên chim mà chị Sáu. – Chị Nhạn nói.
– Thì cũng vậy. Hai đứa bây tên chim mà ăn ít, tui nuôi mệt.
Tối thứ Bảy đầu tháng Tám, mâm cơm dọn ra trên bộ ván ngoài hiên, có quạt trần quay chậm.
Cá nục kho tiêu trong nồi đất. Canh chua cá đối. Rau muống luộc. Ở giữa mâm, một cái hộp thiếc tròn mới, nắp không có hoa mai, chỉ có lớp sơn xanh đã tróc một góc. Bà Rỡ mua ở chợ, đổ muối mới, cho Thoại thay cái hộp anh đã đưa cô.
Thoại về lúc sáu giờ. Chị Nhạn đã ngồi sẵn, cuốn sổ bìa cứng không có trên tay. Chị nói: "Giờ này tôi hết giờ làm. Tôi ăn cơm thôi."
Rồi ông Chín tới.
Ông đi chậm, gầy hơn trước khi nằm viện, chống một cây gậy tre. Con Mực lẽo đẽo theo sau. Ông dừng ở cổng như đêm tháng Tám năm ngoái, khi Thoại ngồi im, lưng thẳng, mắt nhìn vào mâm.
Lần này Thoại đứng dậy. Anh đi ra cổng, đỡ khuỷu tay ông Chín, dắt ông vào, đặt ông ngồi ở chỗ của mình trên bộ ván, rồi anh ngồi xuống chỗ khác.
– Ông ăn cá. – Anh nói.
– Ừ.
Không ai nói thêm. Không cần. Bà Rỡ xới cơm cho ông Chín một vá đầy, gắp một miếng cá to nhất. Con Lu chạy ra cổng sủa con Mực. Con Mực sủa lại. Lần đầu tiên.
Gần cuối bữa, điện thoại Thoại reo. Anh nhìn màn hình, đứng dậy, đi ra góc sân. Hạc thấy anh nghe, không nói gì, chỉ gật đầu mấy lần như người nghe lệnh trên bộ đàm. Rồi anh quay lại, đứng ở đầu bộ ván.
– Thằng Lợi. – Anh nói. – Bé Sương mổ hôm qua. Chiều nay bác sĩ siêu âm lại, nói tốt. Lỗ trên tim đóng rồi.
Ông Chín đặt chén xuống. Ông không nói gì. Ông đưa tay lên dụi mắt, như bà Rỡ hôm thả thằng Lép. Bà Rỡ vỗ vỗ lên lưng ông. Chị Nhạn, người không quen ai ở đây ba tuần trước, cũng lấy vạt khăn chấm mắt.
– Nó nhắn thêm. – Thoại nói, nhìn xuống màn hình. – "Con Sương hỏi khi nào được leo tháp." – Anh ngẩng lên. – Tao trả lời sao?
– Trả lời mười tám tuổi. – Ông Chín nói, giọng khàn. – Có bằng. Có dây an toàn. Rồi leo.
Thoại cúi xuống gõ. Hạc thấy ngón tay anh gõ chậm, từng chữ, như người viết lá thư đính chính hồi tháng Mười.
Ngày mười bốn tháng Tám, bà Uyên gửi văn bản tới văn phòng hội đồng.
Công ty đề nghị điều chỉnh thiết kế giai đoạn hai: dời bốn tháp T17 tới T20 vào vị trí mới cách mép bãi bùn bờ bắc tối thiểu tám trăm mét. Lắp hệ thống camera tự phát hiện đàn chim trên toàn bộ các tháp trong phạm vi một cây số tính từ đầm. Duy trì cơ chế dừng theo yêu cầu cho tháp T1 tới T4 và các tháp mới. Kèm hồ sơ kỹ thuật do kỹ sư Hứa Đình Thoại lập, và một dòng: "Hồ sơ kỹ thuật được lập trên cơ sở số liệu giám sát công khai, không có sự tham gia của người giám sát."
Chị Nhạn đọc văn bản đó trong phòng điều khiển, cho cả phòng nghe, giọng không lên không xuống. Đọc xong, chị gập lại, ghi vào cuốn sổ bìa cứng một dòng.
Hạc không hỏi chị ghi gì. Nhưng lúc chị đứng dậy đi lấy nước, cuốn sổ để mở trên ghế, cô liếc thấy: "Ngày 14/8. Tôi đã ở đây đủ lâu để biết dòng cuối là thật."
Phiên họp cuối cùng định vào sáng thứ Ba, hai mươi lăm tháng Tám, tại nhà máy. Hội đồng sẽ xuống tận nơi. Hạc trình bày số liệu cả năm. Công ty trình bày phương án mới.
Chiều thứ Bảy, hai mươi hai, Linh chạy lên chòi, điện thoại giơ cao, thở hổn hển như hôm gọi bộ đàm khóc giữa đêm áp thấp.
– Chị Hạc! Đài báo! Có áp thấp ngoài khơi!
Hạc cầm điện thoại. Bản tin dự báo. Một vùng áp thấp đang mạnh lên ngoài biển, hướng di chuyển tây tây bắc. Dự kiến ảnh hưởng vùng ven biển từ chiều tối thứ Hai. Gió mạnh, mưa to.
Thứ Hai, hai mươi bốn tháng Tám.
Đúng hai mươi bốn tiếng trước khi hội đồng ngồi xuống cái bàn họp trong nhà vận hành.
— Hết chương 31 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe