Chương 13: Mái nhà ông Chín
Cái cổng tre nhà ông Chín đổ nghiêng, một bản lề bị gió giật đứt. Thoại đứng trước nó. Hạc đứng sau anh hai bước, Linh đã được gửi về nhà bà Rỡ thay đồ khô và ăn cháo.
Trong sân, nửa mái tôn nằm úp sấp, mép tôn cong lên như một cái lá khô khổng lồ. Nửa kia vắt trên ngọn cây me, đung đưa, kêu ken két mỗi khi có gió. Nước mưa đọng thành vũng giữa sân, nổi lềnh bềnh nào lá me, nào giấy vụn, nào một chiếc dép nhựa. Ông Chín ngồi dưới góc mái còn sót, trên một cái thùng sơn úp ngược, áo ướt dính vào lưng. Con Mực nằm cạnh chân ông, đầu ngẩng lên nhìn ra cổng.
Ông Chín cũng nhìn ra cổng. Ông thấy Thoại. Ông không đứng dậy.
Thoại đẩy cánh cổng. Nó kêu một tiếng dài, rồi đổ hẳn xuống. Anh bước qua nó, vào sân.
Hạc biết đó là lần đầu. Không ai nói với cô, nhưng cô biết. Cô thấy anh bước chậm như người đi trên mặt nước đóng băng mỏng, không chắc mặt băng có chịu nổi sức mình không. Tới giữa sân, anh dừng lại, ngẩng lên nhìn cái khung kèo trơ trọi, những thanh gỗ đen sạm, mấy cây đinh rỉ sét chĩa lên trời.
– Kèo còn tốt. – Anh nói. Không nói với ai. – Chỉ mất tôn với xà gồ phía đông.
Ông Chín vẫn ngồi. Ông nhìn Thoại một lúc lâu, rồi nhìn xuống con chó.
– Tôn cũ mỏng. – Ông nói. – Tui định thay từ năm ngoái.
– Nhà máy có tôn dư. Loại dày. – Thoại nói. – Chiều tôi cho người chở ra.
Rồi không ai nói gì nữa. Mười phút sau, tiếng xe máy rồ ở đầu ngõ. Lợi tới, cái thang nhôm gác ngang yên sau, cuộn dây thép vắt trên vai.
Lợi dựng xe, nhìn vào sân. Anh thấy cái mái. Anh thấy cha mình ngồi dưới góc nhà. Mặt anh tối lại.
– Ba. – Anh nói, giọng gắt. – Con nói bao nhiêu lần rồi. Ba dọn lên ở với con. Nhà con có phòng.
– Nhà tao, tao ở.
– Nhà ba sát đầm. Mỗi năm một trận như vầy. Năm nay mất mái, năm sau mất gì?
– Năm sau thì năm sau tính.
Lợi đứng ở cổng, hai tay nắm chặt cái thang. Rồi anh thở ra một hơi dài, khiêng cái thang vào sân, dựng vào cây cột hiên phía tây. Anh không nhìn cha thêm lần nào nữa.
Họ làm cả ngày hôm đó và nửa ngày hôm sau.
Chiều thứ Năm, xe tải nhỏ của nhà máy chở ra mười tấm tôn dày, hai bó xà gồ thép, một thùng đinh vít. Lợi leo lên khung kèo, Thoại đứng dưới đưa đồ lên. Hạc giữ thang, rồi giữ tôn, rồi được giao cầm cái hộp đinh và đưa từng cây khi được gọi. Chị Gấm ở xóm trên ghé qua, xắn quần lội vũng nước giữa sân vớt đồ. Cậu Hiếu ghé qua, leo lên cây me gỡ nửa mái tôn bị vắt trên đó.
Ông Chín không ngồi yên được. Ông đi lòng vòng trong sân, nhặt cái này, dời cái kia, phơi đồ ướt lên hàng rào. Có lúc ông cầm cuộn dây thép đưa lên cho Thoại. Thoại đưa tay ra nhận. Hai bàn tay gặp nhau trên cuộn dây. Không ai nhìn ai. Không ai nói gì. Rồi ông Chín buông tay, Thoại cầm lấy, đưa lên cho Lợi.
Hạc đứng dưới thang nhìn cảnh đó. Cô nghĩ tới câu ông Chín nói trong bóng tối, cái đêm gỡ lưới. Cô nghĩ tới câu Thoại nói trên đồi cát, đêm rằm. Ổng chạy. Ba tôi ở lại. Hai người đàn ông này chuyền tay nhau một cuộn dây thép, như chuyền tay nhau một thứ gì nặng hơn nhiều mà không ai chịu đặt xuống.
Trưa thứ Năm, trước khi xe tôn tới, bà Rỡ đã ghé qua. Bà xách một cái cà mèn ba ngăn, một ngăn cháo cá, một ngăn cá kho, một ngăn rau luộc. Bà đi thẳng vào hiên, đặt cái cà mèn xuống trước mặt ông Chín.
– Ăn đi ông. Ướt từ tối qua tới giờ, ông muốn bệnh hả?
– Bà để đó, chút tui ăn.
– Ăn liền đi. Tui đứng đây coi ông ăn.
Ông Chín nhìn bà Rỡ. Rồi ông mở nắp cà mèn, cầm muỗng lên.
Hạc đứng gần đó, nhìn bà Rỡ. Bà nói chuyện với ông Chín như nói với một người anh trong nhà, không xa không gần, không trách không thương. Cô nghĩ tới câu bà nói đêm rửa chén. Chuyện cũ. Biển nó lấy, ai cản được. Cô nhận ra bà Rỡ đã chọn từ lâu. Chỉ có người con trai của bà là chưa chọn.
Thoại ở trên khung kèo, quay lưng lại phía hiên. Anh không nhìn xuống.
Buổi chiều có một chuyện nhỏ.
Lợi đang bắn vít ở mép mái phía đầm, chỗ khó nhất, vì tôn phía đó phải chồng mí ngược chiều gió chướng. Thoại đứng dưới, nói anh lên coi giùm mí tôn từ phía đầm nhìn vào có thẳng không, vì từ dưới sân không thấy được.
– Anh coi đi. – Lợi nói, không quay lại.
– Tao đang ở dưới.
– Thì anh leo lên. – Lợi vẫn bắn vít. – Em làm phía này. Em không nhìn ra đầm được, chói mắt.
Lúc đó là ba giờ chiều, mây mỏng che nắng. Phía đầm không chói chút nào. Hạc thấy Thoại ngẩng lên, nhìn Lợi một lúc. Rồi anh leo lên thang, tự coi.
Gần năm giờ, trời tối nhanh, mây kéo về lần nữa. Còn hai tấm tôn cuối. Mái hiên phía sau tối om, không thấy chỗ bắn vít. Ông Chín đi vào nhà, lục lọi một lúc, cầm ra cây đèn pin cũ có bọc giấy kiếng đỏ. Ông bật lên, đưa lên cho Lợi.
– Rọi cái này mà làm.
Lợi quay lại. Anh nhìn cây đèn trong tay cha. Vệt sáng đỏ chiếu lên mặt anh.
– Ba cất cái đèn đó đi! – Anh nói. Giọng to, gắt, vỡ ra như một cái chén rơi.
Cả sân im bặt. Chị Gấm đang vớt đồ dưới vũng nước cũng đứng thẳng dậy. Con Mực ngẩng đầu.
Ông Chín đứng im, tay vẫn giơ cây đèn. Ánh đỏ run run trên vách nhà.
– Con xin lỗi ba. – Lợi nói, nhỏ lại. Anh quay mặt đi. – Đèn đỏ con không thấy gì hết. Anh Thoại, đưa em cây đèn trắng.
Thoại đưa cây đèn pin của nhà máy lên. Ông Chín tắt cây đèn đỏ, cầm nó trong tay một lúc, rồi đi vào nhà. Lúc đi ra, tay ông không cầm gì nữa.
Hạc nhìn Thoại. Thoại đang nhìn Lợi. Mặt anh có cái vẻ của người vừa thấy một mã lỗi lạ trên màn hình điều khiển, biết nó có nghĩa nhưng chưa tra ra nghĩa gì. Cô đoán anh nghĩ Lợi xấu hổ vì cái nghề cũ của cha mình. Cái đèn đỏ là đèn đi lưới. Ai trong xóm cũng biết. Có lẽ vậy.
Nhưng cô nhớ cái cách Lợi né không nhìn đầm trên nóc tháp. Cô nhớ cái cách anh nói "em không ra đầm", rồi chui vào trong. Cô không biết mình nhớ những điều đó để làm gì.
Hai tấm tôn cuối cùng xong lúc trưa thứ Sáu. Lợi bắn con vít cuối, ngồi lên nóc nhà, lau mồ hôi bằng vạt áo. Mái nhà mới sáng loáng dưới nắng, xanh như màu nước đầm lúc nước lên. Ông Chín đứng giữa sân nhìn lên, hai tay chắp sau lưng.
Lợi leo xuống, không ăn cơm, nói phải về nhà máy trực. Anh đi ngang cha, gật đầu một cái, rồi lên xe đi thẳng.
Thoại cuộn dây thép, xếp thang, phủi tay. Anh đứng ở giữa sân, trên chỗ cái cổng đổ nằm hôm qua, giờ đã được dựng lại, buộc dây thép thay bản lề. Ông Chín đi tới. Ông dừng lại cách anh ba bước.
– Cảm ơn. – Ông nói.
Thoại im một lúc.
– Không có chi. – Anh nói.
Hạc đứng ở hiên, nghe câu đó, suýt bật cười. Đó là câu anh vẫn nói trên bộ đàm. Không có chi. Mỗi lần cô báo tháp chạy lại được, cảm ơn anh, anh lại nói: không có chi. Câu nói của người trực máy, không dư không thiếu. Giờ anh nói nó với ông Chín, và cô không biết anh có biết mình đang nói câu của bộ đàm không.
Ông Chín gật đầu. Thoại gật đầu. Rồi Thoại đi ra cổng, xách cái thang nhôm, đi về phía nhà máy, không ngoái lại.
Chiều thứ Bảy, Hạc ghé lại nhà ông Chín, mang theo một bịch muối của bà Rỡ và mấy trái thanh long. Ông đang ngồi phơi mấy cái mền ướt trên hàng rào, con Mực nằm ngủ trên nền xi măng khô dưới mái mới.
Cô giúp ông trải mền, dời cái giường tre ra nắng. Trong góc nhà, trên một cái kệ gỗ thấp, cô thấy cây đèn pin bọc giấy kiếng đỏ nằm cạnh một tấm hình đen trắng đã ố. Tấm hình chụp hai người đàn ông trẻ đứng trên bờ đầm, vai khoác lưới, cười toe toét. Một người là ông Chín, nhận ra được nhờ cái gù lưng đã có từ hồi đó. Người kia cao hơn, gầy hơn, có cái cằm vuông và đôi mắt hơi xếch. Đôi mắt mà cô đã thấy trên đồi cát, dưới ánh trăng rằm.
Cô đứng nhìn tấm hình lâu. Ông Chín thấy, nhưng không nói gì.
– Chú Chín. – Cô nói, cuối cùng. – Đêm gỡ lưới, chú nói với con một câu.
Ông Chín ngừng tay. Cái mền ướt trên tay ông nhỏ nước xuống chân, lộp độp.
– Con không kể với ai. – Cô nói. – Con không kể với anh Thoại. Con chỉ muốn hỏi chú, câu đó...
– Chuyện đó tui nói với nó. – Ông Chín nói. Giọng không gắt, chỉ chắc, như đóng một cây đinh. – Không phải nói với cô.
– Dạ.
– Cô nghe rồi thì cô giữ. Cô đừng nói thay tui. – Ông vắt cái mền lên hàng rào, vuốt cho thẳng. – Tui già rồi. Chừng nào tui nói được, tui nói.
– Dạ.
Ông quay lại nhìn cô. Đôi mắt già đục, nhưng nhìn thẳng.
– Mà cô cũng đừng hỏi thằng Lợi. – Ông nói thêm. – Nghen.
Hạc ra về khi mặt trời xuống thấp. Trên đường về, cô đi ngang bờ đầm, chỗ thằng Lép được thả. Bầy rẽ giun vẫn đang kiếm ăn ở bờ đông, đông hơn tuần trước. Mùa chim đang vào.
Tối đó, điện thoại cô rung. Một tin nhắn từ số của thầy Bỉnh ở Hà Nội. Thầy bảy mươi ba tuổi, gõ tin nhắn bằng một ngón tay, không bao giờ bỏ dấu, không bao giờ xuống dòng. Hạc phải đọc chậm từng chữ mới ra:
"Hạc con. Nhóm quan sát bên kia gửi ảnh. Bãi triều trên đường bay, phía bắc vịnh Bắc Bộ, chiều hôm qua. Một con rẽ mỏ thìa, chân trái có cờ xanh nõn chuối. Đọc được chữ H. Số sau mờ nhưng thầy tin là số bảy. Con nó còn sống. Nó đang bay xuống."
Hạc đọc tin nhắn ba lần. Rồi cô bỏ điện thoại xuống, cầm chùm chìa khoá lên. Cái cờ chân xanh nõn chuối khắc H8 nằm trong lòng bàn tay cô, sợi dây đỏ sờn mép quấn qua ngón tay.
Ngoài cửa sổ, mười hai ngọn đèn đỏ chớp trên đồi cát. Gió đã đổi sang hướng đông bắc. Mùa gió chướng bắt đầu.
— Hết chương 13 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe