Chương 2: Ông già vác lưới
Năm giờ kém mười, xóm muối còn tối. Hạc dắt xe đi dọc con đường đất chạy giữa hai dãy ruộng muối, hỏi đường hai lần, lần nào người ta cũng chỉ về cùng một hướng: cuối xóm, sát mé đầm, cái nhà mái tôn có cây me.
Ông Chín đã ngồi chờ ở hiên. Trên bếp than đặt một ấm nước, con Mực nằm khoanh dưới chân ông. Cuộn lưới tối qua không còn. Trong góc sân có một đống tro đen, mùi nhựa cháy còn vương.
– Ông đốt thật ạ.
– Nói đốt thì đốt. – Ông rót nước vào hai cái ly, đẩy một ly về phía cô. – Uống đi. Trà vỏ già, ở đây ai cũng uống.
Hạc nhìn ly trà. Nước màu hổ phách, bốc khói. Cô nghĩ tới hũ tiền trà trên chòi, nghĩ tới cái nguyên tắc cô nói hôm qua với người quản lý kia. Nhưng ông Chín đâu phải nhà máy. Cô cầm ly lên uống. Đúng cái vị chát mà ngọt hậu của chai trà đá hôm qua.
Ông dẫn cô đi khi trời vừa đủ sáng để thấy chân mình. Không đi về phía tháp, mà đi vòng ra rừng phi lao chạy dọc bờ đầm. Con Mực chạy trước, mũi dí sát đất, chốc chốc ngoái lại xem hai người có theo kịp không.
– Con chó nào trong xóm cũng biết, cái quạt đó quay là có đồ ăn. – Ông Chín nói, không quay đầu. – Sáng sớm tụi nó đi một vòng, gặp con nào tha con đó. Tụi nó không ăn tại chỗ. Tụi nó đem vô đây.
Dưới gốc mấy cây phi lao già, trong một lõm cát kín gió, Hạc thấy lông chim. Lông rải thành từng đám, có đám đã bạc màu, có đám còn mới. Lông trắng của cò. Lông xám của diệc. Lông nâu đốm của choắt. Một cái mỏ cong dài cỡ ngón tay nằm lăn lóc cạnh một khúc xương ức trắng như sứ. Cô ngồi xuống, nhặt từng thứ lên bằng nhíp, bỏ vào túi, ghi nhãn. Tay cô hơi run.
– Chỗ này có từ hồi nào ạ?
– Từ hồi có quạt. Ba năm. – Ông ngồi xổm xuống bên cạnh, chỉ vào một đám lông xám. – Con này chết mùa gió năm rồi. Tui thấy con Mực tha về.
– Hồi đó có người đi tìm xác chim mà. Bên công ty tư vấn. Họ có đi vô đây không?
– Có mấy người đi với cái thước dây. Nửa tháng một lần. – Ông nhún vai. – Nửa tháng thì con Mực ăn xong từ lâu rồi.
Hạc không nói gì. Cô đếm. Hai mươi ba đám lông riêng biệt, có thể là hai mươi ba con, có thể ít hơn, cũng có thể nhiều hơn vì nhiều xác chẳng còn lại cái lông nào. Một chỗ. Một con chó. Ba năm.
Lúc về, cô hỏi ông Chín có muốn làm phụ việc cho cô không. Đi dò xác buổi sáng, chỉ chỗ thú vật tha xác, coi giờ nước. Ba trăm nghìn một buổi, tiền của viện, không phải tiền nhà máy.
Ông Chín nhìn cô một lúc, như nhìn một con chim lạ đậu nhầm chỗ.
– Cô không hỏi tui xưa làm nghề gì hả?
– Tôi đoán được.
– Đoán được mà vẫn thuê.
– Người biết chim chết ở đâu thì là người tôi cần.
Ông Chín cười. Cái cười không ra tiếng, chỉ thấy hai vai rung.
– Vậy mai năm giờ. Con Mực đi chung.
Muốn vào khu vực nhà máy, người làm thuê phải đăng ký với phòng vận hành. Mười giờ sáng, Hạc chở ông Chín tới cổng. Bảo vệ gọi điện vào trong, mười phút sau người quản lý hôm qua đi ra, tay cầm tập giấy và cây bút.
Cô thấy anh nhìn ông Chín. Cái nhìn rất ngắn. Không phải ghét, cũng không phải ngạc nhiên. Giống như người ta nhìn một cái gai dưới chân, biết nó ở đó từ lâu, đi né cả chục năm rồi.
– Ông Chín. – Anh nói, gật đầu một cái.
– Thằng Thoại. – Ông Chín nói.
Rồi không ai nói gì nữa. Thoại đưa tờ đăng ký cho Hạc, chỉ chỗ ghi họ tên, số căn cước, giờ ra vào. Ông Chín đọc số căn cước cho cô ghi, mắt nhìn đi chỗ khác.
– Ông Chín làm phụ việc cho viện. – Hạc nói. – Dò xác buổi sáng. Tiền viện trả.
– Cô thuê ai là quyền cô. – Thoại ký vào ô cuối, nét chữ gọn và nghiêng. – Ông Chín vô thì đi chung với cô. Đừng đi một mình trong hàng rào.
– Sao vậy anh?
– Quy định an toàn. Ai cũng vậy.
Anh nói đúng. Hạc đã đọc quy định. Nhưng cô cũng thấy anh không nhìn ông Chín thêm một lần nào nữa, kể cả khi đưa thẻ ra vào tận tay ông. Ông Chín nhận thẻ, nhét vào túi áo, quay ra xe trước. Con Mực đứng chờ ngoài cổng, vẫy đuôi với Thoại. Thoại không nhìn nó.
Trên đường về, ông Chín ngồi sau xe, im như cái bao gạo. Tới đầu xóm, ông mới nói:
– Cô ở đâu?
– Nhà nghỉ trong Phan Rang. Đi về mỗi ngày năm chục cây.
– Vậy chết. Mùa mưa tới, đường ven biển ngập, cô kẹt ngoài đó. – Ông chỉ tay về phía một căn nhà ngói đỏ có cái sân rộng, phơi đầy những bao muối trắng. – Bà Sáu Rỡ có phòng trống. Con bà đi làm xa, nhà có mình bà. Cô qua hỏi.
Bà Sáu Rỡ đang cào muối.
Hạc đứng ở bờ ruộng mười phút mới dám gọi, vì bà làm đẹp quá, cô không nỡ cắt ngang. Ô ruộng muối vuông vức như ô bàn cờ, nền nện chặt, nước biển đã bay hơi gần hết, chỉ còn một lớp hạt muối trắng óng đọng dưới đáy như kim cương vụn. Bà Rỡ đội nón lá, khăn quấn kín mặt chỉ chừa hai con mắt, đẩy cây cào gỗ dài theo một nhịp đều, gom muối thành từng luống. Tiếng cào sột soạt. Muối kêu lạo xạo. Nắng mười một giờ trưa đập xuống mặt ruộng rồi hắt lên, chói tới mức Hạc phải nheo mắt.
– Cô ơi!
Bà Rỡ dừng tay, kéo khăn xuống. Mặt bà tròn, rám nắng, có một nốt ruồi to ở cằm.
– Ai đó?
– Dạ con nghe ông Chín nói cô có phòng cho thuê.
– Ông Chín nói hả? – Bà chống cây cào, nhìn cô từ đầu xuống chân, dừng lâu ở cái ống nhòm đeo trên cổ. – Con làm gì?
– Dạ con nghiên cứu chim. Con làm ở mấy cái tháp gió đằng kia một năm.
– Ủa, nghiên cứu chim? – Bà quay sang nhìn hàng tháp trắng trên đồi cát, rồi nhìn lại cô. – Mấy cái quạt đó mà cũng có người nghiên cứu chim hả?
– Dạ, có. Coi chim có bị cánh quạt đánh trúng không.
– Có chớ sao không. – Bà Rỡ nói tỉnh bơ. – Con Lu nhà tui tháng nào cũng tha về một con. Tui la quá trời mà nó đâu có nghe.
Bà đi lên bờ, tháo găng tay, rửa chân trong cái lu nước mưa đặt ở đầu ruộng. Rồi bà dẫn Hạc vào nhà.
Căn phòng nằm phía sau, cửa sổ nhìn ra ruộng muối và xa hơn là mặt đầm. Một cái giường gỗ, một cái tủ nhỏ, cái quạt đứng, cái bàn gỗ kê sát cửa sổ. Tường quét vôi xanh nhạt, có treo một tấm lịch cũ và một tấm bằng khen đã ố, chữ in mờ tới mức không đọc được tên ai. Trên nóc tủ là một cái máy bay mô hình làm bằng lon bia, cánh quạt bằng nắp lon, bám bụi dày.
– Phòng của thằng con tui. – Bà Rỡ nói. – Nó đi làm ở chỗ khác, ở luôn bên đó, cuối tuần mới về. Phòng bỏ không, để con ở. Một triệu tám, điện nước tui lo hết. Cơm thì muốn ăn chung cũng được, tui nấu một mình cũng buồn.
– Dạ được, cô.
– Mà con ăn được mắm hông?
– Dạ được.
– Ăn được cay hông?
– Con người Quảng Bình, cô.
Bà Rỡ cười lớn, vỗ vai cô một cái.
– Vậy được.
Ngay lúc đó, một con chó vàng chạy từ ngoài sân vào, đuôi ngoe nguẩy, mõm dí vào chân Hạc hít lấy hít để. Nó mập ú, lông vàng như rơm phơi, có một cái tai cụp.
– Lu! Ra! – Bà Rỡ quát. – Con chó này hư lắm. Mà con đừng để ly trà đá ngoài hiên nghen, nó liếm hết. Nó mê trà đường còn hơn tui.
Hạc nhìn con chó vàng. Con chó vàng nhìn cô, thè lưỡi. "Cô không uống thì Lu uống." Cô nghĩ tới câu đó, rồi tự bảo: cái xóm này chắc phân nửa số chó tên Lu, giống như phân nửa số chó ở Đồng Hới tên Vàng. Cô cúi xuống gãi tai con chó. Nó nằm ngửa ra ngay, bốn chân giơ lên trời.
Chiều thứ Năm, H'Linh Niê tới.
Linh là sinh viên năm cuối ngành sinh học ở Buôn Ma Thuột, được trường gửi xuống thực tập bốn tháng, nếu làm tốt thì ở lại tới hết năm giám sát. Cô bé xuống xe khách ở đầu đường quốc lộ, kéo theo một cái vali to gần bằng người, một cái ba lô và một bao tải nhỏ đựng gì đó lục cục.
– Chị Hạc! Em đây!
Linh nhỏ người, da nâu, tóc buộc cao, cười thì lộ hết hàm răng. Cái giọng cô bé to tới mức một con dê đang gặm cỏ ven đường giật mình ngẩng đầu. Con dê nhìn Linh. Linh nhìn con dê. Linh lùi một bước.
– Nó có húc không chị?
– Không đâu.
– Sao chị biết?
– Vì nó đang bị cột.
Linh nhìn sợi dây thừng buộc ở cổ con dê, thở phào, rồi vẫn đi vòng qua bên kia đường cho chắc.
Trong bao tải là bốn ký cà phê bột và hai ký măng khô mẹ cô bé gửi biếu chủ nhà. Bà Rỡ nhận bao măng, cảm động tới mức tối đó nấu ngay một nồi canh măng hầm xương, rồi bắt Linh ăn ba chén cơm.
– Con nhỏ này ăn được. – Bà Rỡ nói với Hạc, giọng đầy hài lòng. – Không như con, ăn như con chim.
– Con là người nghiên cứu chim mà cô.
– Thì tui mới nói. Từ nay tui gọi con là con nhỏ chim.
Hai cô gái ở chung dãy phòng sau, mỗi người một phòng, phòng Linh nhỏ hơn và ngó ra cái chuồng gà. Đêm đầu tiên, Linh gõ cửa phòng Hạc lúc mười một giờ, ôm cái gối.
– Chị ơi, gió ở đây lúc nào cũng thổi vậy hả chị?
– Từ giờ tới tháng Ba, còn mạnh hơn.
– Em nghe nó hú như có người.
– Đó là tiếng gió qua mấy cái lỗ trên mái tôn nhà bên.
– Còn tiếng ầm ầm xa xa?
Hạc mở cửa sổ. Ngoài kia, dưới bầu trời đầy sao, hàng tháp trên đồi cát nhấp nháy đèn đỏ, đèn nào cũng chớp cùng một nhịp. Tiếng cánh quạt quét gió vọng tới, trầm và đều, như tiếng thở của một con thú khổng lồ đang ngủ.
– Đó là tiếng tháp quay.
– Nó quay suốt đêm hả chị?
– Có gió là quay.
Linh đứng bên cửa sổ, nhìn một lúc lâu.
– Đẹp ghê. Mà chị gọi cho nó dừng hả?
– Có chim thì gọi.
– Ai nghe chị gọi?
Hạc nghĩ tới giọng nói đều đều trên bộ đàm, nghĩ tới người đàn ông thấm ngón tay đo gió.
– Một người tên Tý trực phòng điều khiển. Với một người tên Thoại.
– Người tên Thoại có dữ không chị?
– Không dữ. – Hạc ngẫm nghĩ. – Nhưng tính bằng tiền từng phút.
Sáng thứ Sáu, ông Chín dẫn hai cô đi dò xác. Từ thứ Tư tới giờ, ba buổi, ba xác: một con cò trắng dưới tháp Hai, một con dơi dưới tháp Bốn, một con nhạn biển dưới tháp Ba. Con Mực từ hôm thứ Tư đã bị cột ở nhà theo lệnh Hạc, vì nó hay chạy trước tha luôn cái xác cô cần đếm. Nó sủa vọng theo suốt cả buổi.
Chiều hôm đó, Hạc về sớm. Bà Rỡ đang ngồi ngoài hiên lặt rau muống, cái nón lá úp bên cạnh. Thấy cô, bà đứng dậy, phủi tay vào ống quần.
– Con nhỏ chim. Tối mai con ở nhà ăn cơm nghen, đừng đi đâu.
– Dạ, có gì không cô?
– Tối thứ Bảy thằng con tui về. – Bà nói, giọng tự hào như khoe một bao muối hạng nhất. – Nó làm trên mấy cái quạt đó. Để nó gặp con. Hai đứa làm chung chỗ, biết đâu nó giúp được gì con.
– Dạ, anh ấy làm kỹ thuật hả cô?
– Kỹ thuật gì tui đâu có biết. – Bà Rỡ cười. – Tui chỉ biết mỗi lần mấy cái quạt đó đứng là nó gọi điện về than. Mấy bữa nay nó than quá trời.
— Hết chương 2 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe