Chương 21: Nha Trang không có gió
Bốn giờ năm mươi sáng, Hạc mở mắt, với tay tìm cái bộ đàm trên bàn. Không có bộ đàm. Chỉ có cái điện thoại, cái đồng hồ báo thức cô quên tắt, và tiếng xe rác đổ thùng dưới đường.
Cô nằm im, nghe. Ở Phước Diêm giờ này có tiếng gió quét qua mái tôn nhà bên, tiếng con Lu gãi tai ngoài hiên, và xa hơn, trầm hơn, tiếng mười hai cái tháp thở đều trên đồi cát. Ở đây, trong căn phòng trọ tầng ba của một con hẻm gần chợ, chỉ có tiếng máy lạnh nhà đối diện và tiếng một người đàn bà rao xôi. Gió biển Nha Trang thì có, nhưng nó thổi nhẹ, ẩm, lịch sự, như gió trong phòng khách. Nó không làm cái gì phải xoay cánh ra khỏi nó.
Đã mười ngày cô dậy vào giờ này, và lần nào cũng tìm cái bộ đàm.
Ngày mười hai tháng Ba, viện họp kỷ luật.
Phòng họp nhỏ trên tầng hai, cửa sổ nhìn ra một cây bàng già. Viện trưởng ngồi giữa, hai người trong hội đồng khoa học ngồi hai bên. Họ đọc lại văn bản của hội đồng thẩm định tỉnh, đọc thư tự khai của cô, đọc thư xin rút. Họ hỏi cô ba câu. Quan hệ bắt đầu từ ngày nào. Từ ngày đó tới ngày khai là bao nhiêu ngày. Trong những ngày đó cô có điều chỉnh số liệu nào, quy tắc nào không.
– Mười sáu tháng Hai. Mười sáu ngày. Không điều chỉnh gì. – Cô trả lời, từng câu, không thêm chữ nào.
Viện trưởng gật đầu. Ông là người đã nhận cô vào viện bảy năm trước, đã ký cho cô đi Gành Đỏ, đã nghe điện thoại thay cô cả tháng Mười Hai năm đó khi người ta gọi tới chửi.
– Mười sáu ngày là chậm. – Ông nói. – Người giám sát không được chậm một ngày nào. Viện khiển trách. Ghi vào hồ sơ. Từ giờ tới khi hội đồng tỉnh có kết luận, em không nhận đề tài hiện trường. Em làm việc trong phòng.
– Dạ.
– Em có ý kiến gì không?
– Dạ không. – Cô nói. Rồi nghĩ một chút. – Mười sáu ngày là chậm. Thầy nói đúng.
Việc trong phòng là số hoá mấy chục thùng phiếu điều tra chim nước từ những năm chín mươi, thứ mà viện đã định làm từ lâu mà không ai rảnh. Phiếu giấy ố vàng, chữ viết tay của những người đã nghỉ hưu, có tờ dính cả vết cà phê. Cô ngồi ở cái bàn cuối phòng lưu trữ, gõ từng dòng vào bảng tính. Ngày tháng, địa điểm, loài, số lượng. Một trăm hai mươi con cò trắng ở một cái đầm mà giờ đã thành khu đô thị. Ba con rẽ mỏ thìa ở một bãi bồi mà giờ không ai còn thấy con nào.
Trưa, cô ăn cơm hộp một mình ở cái ghế đá dưới gốc bàng.
Đồng nghiệp không tránh cô. Họ chỉ không biết nói gì với cô. Mấy người trẻ cười cười, hỏi han chuyện thời tiết. Mấy người lớn thì gật đầu, ánh mắt như muốn nói "chuyện đó ai mà chẳng có", rồi đi. Không ai hỏi về tấm ảnh. Cô biết nó đã đi một vòng trong viện. Có một buổi sáng cô bước vào phòng lưu trữ, hai cô thực tập sinh đang chụm đầu vào một cái điện thoại, thấy cô thì tắt màn hình nhanh như tắt đèn.
Cô mở cái hộp thiếc nắp vẽ hoa mai, chấm một miếng trứng chiên vào muối rang ớt.
Muối trong hộp đã hết từ hôm thứ Bảy. Cô đổ thêm từ cái bịch bà Rỡ gói. Cay. Cay tới mức chảy nước mắt, phải ngửa cổ lên nhìn tán bàng mà thở. Một cô lao công đi ngang, nhìn cô, rồi nhìn cái hộp thiếc, rồi lặng lẽ đặt xuống cạnh cô một ly trà đá.
– Cay quá thì uống đi con.
Hạc nhìn ly trà. Cô định nói cảm ơn, con có nước rồi. Rồi cô cầm lên uống. Trà đá ở Nha Trang không có vị vỏ cây. Nó chỉ lạnh.
Tối thứ Bảy, ba cô gọi từ Đồng Hới.
– Con Hạc đếm cò đó hả? – Giọng ông Đạt ồm ồm, lẫn tiếng sóng và tiếng máy tàu nổ đều. Ông đang trên tàu, tàu đang về bến. – Hôm ni đếm được mấy con?
– Dạ, con không đếm nữa, ba. Con ngồi trong phòng.
Đầu dây bên kia im. Tiếng máy tàu vẫn nổ.
– Răng rứa?
– Dạ, chuyện công việc. Con kể sau.
– Ờ. – Ông Đạt nói. Ông không hỏi tiếp. Ba cô chưa bao giờ hỏi tiếp. Ông chỉ nói: – Ba nghe giọng con như con cò ướt mưa. Ăn cơm chưa?
– Dạ rồi.
– Ăn cay vô. Người Quảng Bình ăn cay thì không buồn được.
Cô cười, lần đầu tiên từ hôm rời Phước Diêm. Ba cô cười theo, tiếng cười lẫn trong tiếng gió biển ngoài Nhật Lệ. Rồi ông nói tàu sắp cập, phải đi neo dây, và cúp máy mà không chào, như mọi lần.
Ngày mười tám, thầy Bỉnh vào.
Thầy bảy mươi ba tuổi, đi tàu hoả từ Hà Nội, hai mươi mấy tiếng, ngồi ghế cứng vì nói nằm giường không ngắm được ruộng. Thầy nói thầy vào dự hội thảo. Hạc biết không có hội thảo nào. Thầy đứng ở cổng viện, cái mũ cối cũ trên đầu, cái túi vải bạc màu đeo chéo, tóc bạc trắng như lông cò ngàng. Thấy cô chạy ra, thầy không hỏi gì, chỉ đưa tay vỗ hai cái lên vai cô, như vỗ lưng một con chim vừa gỡ khỏi lưới.
Họ ngồi ở một quán cà phê nhìn ra biển. Thầy gọi một ly trà nóng. Cô gọi một ly trà đá. Thầy nghe cô kể, từ đầu tới cuối, không ngắt câu nào. Thầy chỉ hỏi lại đúng một chỗ.
– Cái danh sách đó, nó viết lý do vì sao xếp con đầu tiên không?
– Dạ có. Bản đánh máy có. "Tác giả báo cáo giám sát trại gió Gành Đỏ năm 2021."
Thầy Bỉnh gật đầu, chậm. Thầy uống một ngụm trà, đặt ly xuống.
– Con nghe thầy nói. – Thầy nói, giọng Hà Nội cũ, chữ nào cũng tròn. – Thầy đi bãi bồi năm mươi năm. Thầy gặp đủ loại người muốn mua thầy. Người mời ăn, người cho tiền, người hứa đề tài. Người muốn mua mình, con ạ, thì họ chọn người dễ bảo. Họ không bao giờ chọn đứa khó tính nhất.
Hạc nhìn ra biển. Mặt nước phẳng, xanh, có mấy chiếc thuyền thúng lắc lư gần bờ.
– Người chọn con vì con khó tính nhất, – thầy nói, – thì không phải người muốn mua con.
– Con biết, thầy.
– Con biết bằng đầu. – Thầy nói. – Con chưa biết bằng bụng.
Cô không cãi.
– Còn cái cờ H8? – Thầy hỏi. – Thầy thấy chùm chìa khoá con không còn.
– Con đưa anh ấy rồi. – Hạc nói. Cô thấy mặt mình nóng lên, như mười tám tuổi. – Hồi hai mươi ba tháng Chạp. Con dặn anh ấy nhớ mà đếm.
Thầy Bỉnh nhìn cô một lúc. Rồi thầy cười, cái cười làm những nếp nhăn quanh mắt thầy xếp lại như vằn cát sau gió.
– Thầy cho con giữ. Con cho ai là quyền con. – Thầy nói. – Mà con đã cho thì đừng đòi lại. Cờ chân gắn rồi không tháo.
Thầy ở Nha Trang hai ngày rồi đi tàu về. Trước khi lên tàu, thầy dúi vào tay cô một tờ giấy gấp tư, dặn lên tàu rồi mới mở. Cô mở ngay khi tàu vừa chuyển bánh. Thầy viết tay, không dấu, không xuống dòng như mọi tin nhắn: "Doc lai Ganh Do. Con viet bao cao do nhung con chua doc het nguoi ta gui cho con."
Tối đó, cô xin chìa khoá kho lưu trữ.
Hồ sơ Gành Đỏ nằm ở kệ thứ tư, ba hộp bìa cứng, gáy ghi bằng bút dạ của chính cô bốn năm trước. Hộp thứ nhất là số liệu hiện trường ba tháng mùa chim. Hộp thứ hai là báo cáo và thư từ với hội đồng bên đó. Hộp thứ ba cô gần như chưa mở lại lần nào. Đó là bản sao nhật ký vận hành mùa dừng đêm đầu tiên, từ tháng Mười Một năm hai nghìn hai mươi mốt tới tháng Hai năm hai nghìn hai mươi hai. Nhà máy gửi nó theo yêu cầu của hội đồng để người giám sát kiểm tra lệnh dừng có được thi hành không.
Hồi đó cô kiểm bằng cách đếm. Đêm nào cũng có dòng "dừng lúc 22:00", đêm nào cũng có dòng "chạy lại lúc 05:00". Đủ đêm. Cô ký xác nhận rồi cất. Cô không đọc phần ghi chú của ca trực.
Giờ cô đọc.
Mỗi trang là một đêm. Ở góc dưới, ô "Trưởng ca", có hai chữ cái viết tắt và một chữ ký nhỏ. Hai chữ cái đó lặp lại gần như đêm nào cũng có. Cô không cần nhìn tên in bên dưới. Cô nhận ra nét chữ ở phần ghi chú trước. Chữ in hoa, thẳng hàng như chữ trên bản vẽ kỹ thuật. Nét chữ trên nắp hũ tiền trà. Nét chữ trong cuốn sổ thực địa sáng hôm đếm ba mươi mốt xác chim cút.
Phần lớn ghi chú khô như ngói: tốc độ gió, mã lỗi, tháp nào kẹt góc cánh. Cô lật từng trang. Tới đêm hai mươi hai tháng Mười Hai năm hai nghìn hai mươi mốt, cô dừng lại.
"22:40. CÓ LỆNH MIỆNG QUA ĐIỆN THOẠI CHO CHẠY LẠI THÁP 7, 8, 9 VÌ GIÓ TỐT. KHÔNG THI HÀNH. LỆNH DỪNG ĐÊM LÀ VĂN BẢN CỦA HỘI ĐỒNG. CHỜ VĂN BẢN KHÁC."
Đêm hai mươi ba: "22:15. LỆNH MIỆNG LẦN 2. KHÔNG THI HÀNH. ĐÃ BÁO CÁO BẰNG VĂN BẢN LÊN PHÒNG KỸ THUẬT."
Đêm hai mươi bốn, không có ghi chú gì. Chỉ có hai dòng: dừng lúc hai mươi hai giờ, chạy lại lúc năm giờ. Ô trưởng ca vẫn hai chữ cái đó.
Tháng Mười Hai năm đó. Cái tháng ông giám đốc Gành Đỏ mất việc. Cô đã luôn nghĩ ông mất việc vì báo cáo của cô. Giờ cô thấy thêm một điều: trong những đêm cuối cùng ông còn ngồi ghế giám đốc, có người gọi điện xuống phòng trực bảo cho quạt chạy lại, và có một người trưởng ca không nghe.
Cô ngồi trong kho lưu trữ tới mười một giờ đêm, giữa những cái kệ sắt và mùi giấy cũ, trang nhật ký mở trên đùi. Ngoài cửa sổ không có tháp nào, không có đèn đỏ nào chớp. Chỉ có cây bàng già đứng im, lá không động.
Năm hai nghìn hai mươi mốt, cô viết một bản báo cáo và nghĩ nó tự đứng được. Cô chưa bao giờ hỏi ai đã giữ cho nó đứng, vào những đêm cô ngủ ở nhà nghỉ, cách đó hai cây số.
Cô chụp ảnh ba trang nhật ký. Cô không gửi cho ai. Cô cất hộp lại đúng chỗ.
Đêm hai mươi bốn tháng Ba, cô đang ngủ thì điện thoại reo.
Không phải tiếng chuông báo thức. Màn hình hiện một số cô đã lưu từ hồi tháng Chín mà chưa từng gọi tới. Mười một giờ năm mươi tám phút. Cô bật dậy, tim đập như hồi còn trực chòi, nghe bộ đàm rè lúc nửa đêm.
– Hạc hả? Chị Trâm đây.
Giọng Trâm thấp, nhanh, có tiếng gió lùa qua ống nghe. Cô nghe ra tiếng gió đó. Gió đông bắc cuối mùa, thổi qua đồi cát.
– Chị đang ở đâu vậy chị?
– Chị đang ngồi trong xe, ở bãi đậu xe nhà máy. Không dám ngồi trong phòng. – Trâm nói. – Chị có một con choắt lớn mỏ vàng trong thùng giữ lạnh, nằm trên ghế sau. Chết dưới tháp Ba sáng nay. Có người muốn chị để mai tìm lại.
Hạc ngồi thẳng dậy. Cô không hỏi ai. Cô đoán được.
– Chị nghe em nói. – Cô nói.
– Khoan. – Trâm ngắt lời. – Chị phải nói trước một chuyện. Em không còn là người giám sát. Chị mới là người giám sát. Chị gọi em là chị làm sai quy trình. Chị biết. Chị vẫn gọi. Chị sẽ ghi vào biên bản là chị đã hỏi ý kiến em, mấy giờ, hỏi gì. Em có muốn chị ghi không?
Hạc im lặng một giây. Cô nghĩ tới cái câu ông Nghị viết tay bên lề văn bản hồi tháng Mười Hai. Phương pháp tốt. Cô nghĩ tới căn phòng có bốn bức tường.
– Chị ghi. – Cô nói. – Ghi đúng giờ chị gọi.
Đầu dây bên kia, cô nghe Trâm thở ra, dài, như người vừa leo hết một đoạn dốc cát.
– Vậy em chỉ chị. – Trâm nói. – Chị cần lập một cái biên bản. Mà cái biên bản đó, sáng mai không ai xoá được.
— Hết chương 21 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe