Chương 14: Bảy triệu một giờ
– Một trăm tám mươi sáu giờ.
Thoại đặt tờ giấy lên bàn gỗ trong chòi số Một, lấy cái hũ tiền trà chặn lên cho gió khỏi thổi bay. Tờ giấy in một cái bảng, bốn cột cho bốn cái tháp, ba mươi dòng cho ba mươi ngày tháng Mười Một.
– Tháng Mười Một, bốn cái tháp gần đầm đứng tổng cộng một trăm tám mươi sáu giờ vì lệnh dừng. – Anh nói. – Gió tháng này mạnh. Nhân với bảy triệu, ra hơn một tỷ ba.
Hạc không hạ ống nhòm.
– Tôi biết.
– Tháng Mười Hai gió còn mạnh hơn. Chim cũng nhiều hơn.
– Tôi biết.
– Cô biết. – Thoại nói. – Ông Lộc cũng biết. Sáng nay ổng gọi tôi.
Lần này Hạc hạ ống nhòm. Ngoài kia, gió đông bắc thổi ràn rạt, quất mấy bụi cỏ lông chông lăn tròn trên mặt cát như những con nhím trắng. Mười hai cái tháp quay hết tốc lực, cánh vút qua đỉnh nhanh tới mức nhìn chỉ thấy một vệt mờ. Cả đồi cát rung lên một thứ tiếng ù ù trầm đục, như có ai thổi vào miệng một cái chai khổng lồ.
– Ông ấy nói gì?
– Ổng nói hợp đồng ghi dừng "trong vòng sáu mươi giây". Không ghi phải dừng ngay giây đầu tiên. Ổng nói phòng điều khiển có thể nhận lệnh, xác nhận lại, kiểm tra, rồi mới dừng. Chín mươi giây. Có khi hai phút. – Thoại ngừng lại. – Ổng tính, mỗi lần dừng chậm một phút, cả tháng đỡ được chừng hai trăm triệu.
– Rồi anh nói sao?
– Tôi nói hợp đồng ghi sáu mươi. Phòng điều khiển dừng trong sáu mươi.
– Rồi ông ấy nói sao?
– Ổng cúp máy.
Hạc nhìn anh. Anh đứng tựa vào cột chòi như mọi lần, áo khoác gió kéo khoá tới cằm, mũ bảo hộ kẹp dưới nách. Gương mặt vẫn đen sạm, vẫn không có biểu cảm gì. Nhưng cô đã ở đây hơn ba tháng, và giờ cô biết đọc cái không biểu cảm đó. Hai bên thái dương anh có hai vết lõm nhỏ khi anh nghiến răng.
– Anh lên đây để kể cho tôi nghe chuyện đó?
– Không. – Anh nói. – Tôi lên để hỏi cô một chuyện. Cô nói ba tháng thì có hình, sáu tháng thì có số. Giờ là hơn ba tháng. Cô có hình chưa?
Hạc mở máy tính. Cô có hình. Từ tháng Chín tới giờ, cô và Linh đã ghi gần bốn nghìn lượt chim bay ngang khu vực bốn tháp gần đầm, mỗi lượt có giờ, loài, số lượng, độ cao, hướng bay. Nhìn qua thì như một mớ hỗn độn. Nhưng nếu xếp theo giờ con nước, thì có hình. Bầy choắt bay thấp nhất vào lúc nước lên, khi bãi trong ngập trước, chúng dạt ra bãi ngoài. Cò, diệc bay cao vào lúc trời lặng, thấp vào lúc gió giật. Chim săn mồi bay một mình, theo luồng gió dọc bờ.
– Có hình. Nhưng chưa ghép được với gió. – Cô nói. – Tôi có giờ, có độ cao. Tôi không có tốc độ gió, hướng gió từng phút ở từng tháp.
– Tôi có.
Cô nhìn anh.
– Hệ thống điều khiển ghi gió mười phút một lần, ở từng tháp. Ba năm nay. – Anh nói. – Tôi xuất ra được. Hợp pháp, đúng quy trình, có biên bản gửi hội đồng.
– Anh muốn làm gì?
– Tôi muốn biết lúc nào cô thật sự cần gọi dừng. Lúc nào cô gọi vì chưa có số.
Hạc im lặng một lúc lâu. Cô hiểu anh đang đề nghị gì. Một quy tắc dừng dựa trên dữ liệu thay vì dựa trên mắt cô. Nếu làm đúng, chim vẫn được bảo vệ, mà tháp đứng ít hơn. Nếu làm sai, hoặc nếu ai đó nghĩ cô đang làm sai, thì cái quyền gọi dừng mà hội đồng giao cho cô thành ra một thứ thương lượng với nhà máy.
– Tôi làm. – Cô nói cuối cùng. – Nhưng tôi viết phương pháp. Tôi đặt ngưỡng. Tôi gửi hội đồng duyệt trước khi áp dụng. Anh chỉ cung cấp số liệu gió.
– Đúng vậy.
– Và tôi được quyền gọi dừng ngoài quy tắc bất cứ lúc nào tôi thấy cần.
– Đúng vậy.
– Anh không cãi chữ nào hả?
– Cô nói đúng chữ nào thì tôi cãi chữ đó?
Họ làm việc hai tuần, phần lớn vào ban đêm.
Ban ngày cô lên chòi, sáng sớm đi tìm xác, không có giờ nào trống. Ban đêm, sau khi viết xong báo cáo ngày, cô chạy xe ra nhà máy, ngồi ở cái bàn trống trong góc phòng điều khiển, cạnh ô cửa kính nhìn ra hàng tháp. Thoại ngồi ở bàn bên kia, xuất từng tệp dữ liệu gió, kiểm từng cột, gửi qua cho cô. Cô nhập vào bảng của mình, ghép theo giờ, vẽ biểu đồ. Anh Tý trực ca đêm, ngồi giữa hai người, mắt dán vào màn hình điều khiển, tai nghe một vở cải lương cũ phát từ cái đài nhỏ để trên bàn. Thỉnh thoảng anh hát theo nửa câu vọng cổ, giọng khàn khàn, rồi tự ngưng lại như sợ làm phiền.
Có đêm anh Tý ngủ gục trên ghế lúc hai giờ sáng. Thoại đứng dậy, kéo cái áo khoác của mình đắp lên vai anh Tý, rồi ngồi vào ghế trực thay. Hạc nhìn cảnh đó qua mép màn hình máy tính. Cô không nói gì.
Đêm thứ năm, cô tìm ra nó.
– Anh Thoại. Anh qua coi.
Anh qua. Cô chỉ vào màn hình. Một đám chấm đỏ dày đặc, mỗi chấm là một lượt chim bay vào vùng quét của cánh tháp. Phần lớn chấm đỏ tập trung vào một góc nhỏ của biểu đồ: lúc nước lên, gió đông bắc trên tám mét một giây, chim bay ở độ cao dưới hai trăm mét, cách tháp dưới một cây số. Ngoài cái góc đó, chấm đỏ thưa thớt.
– Đây. – Cô nói. – Gió mạnh làm chim bay thấp. Nước lên làm chim phải bay từ bãi trong ra bãi ngoài, cắt ngang tháp Ba, tháp Bốn. Hai cái cùng lúc thì nguy hiểm. Một cái thôi thì ít hơn nhiều.
– Vậy ngoài cái góc này...
– Ngoài cái góc này, phần lớn những lần tôi gọi dừng là thừa. – Cô nói, giọng thấp, như thú nhận. – Tôi gọi vì tôi thấy chim, mà tôi không biết chim đó có thật sự sẽ bay vào cánh không.
Thoại nhìn biểu đồ rất lâu. Rồi anh nhìn cô.
– Cô vừa nói một câu mà ông Lộc sẽ trả tiền để nghe.
– Tôi biết.
– Cô vẫn nói.
– Số là số. – Cô nói. – Mà quan trọng hơn: nếu tôi gọi dừng ít lại ở chỗ không cần, thì khi tôi gọi ở chỗ cần, không ai dám bảo tôi gọi bừa.
Anh im lặng. Rồi anh làm một điều cô không ngờ. Anh đưa tay ra, đặt lên vai cô, siết nhẹ một cái. Chỉ một cái. Rồi buông.
– Mai tôi mua bánh căn. – Anh nói, rồi quay về bàn mình.
Hôm sau anh mua bánh căn thật. Mười giờ tối, anh xách một túi giấy dầu nóng hổi vào phòng điều khiển, mùi bột gạo nướng khét cạnh, mùi hành phi, mùi nước mắm cá nục chua ngọt bốc lên khắp phòng. Anh Tý tắt đài, quay ghế lại. Ba người ngồi quanh cái bàn trực, ăn bánh căn bằng tay, chấm vào cái chén nước mắm đặt giữa.
– Bánh này ở đâu ngon vậy anh?
– Đầu chợ xã. Út Thắm bán. Vợ thằng Lợi.
– Bao nhiêu tiền?
– Hai chục một đĩa mười cái.
Hạc lục túi áo, móc ra một tờ năm nghìn.
– Bánh căn không tính vô tiền trà. – Thoại nói, không ngẩng lên.
– Vậy tính vô đâu?
– Tính vô tiền làm thêm giờ. Nhà máy trả cho người của nhà máy. Cô không phải người của nhà máy, cô ăn ké.
– Vậy tôi càng phải trả.
– Ăn ké thì trả giá ké, năm trăm một cái. – Anh nói. – Cô ăn có năm cái. Hai ngàn rưỡi.
– Tôi ăn bảy cái.
Anh Tý bật cười, bánh căn trong miệng suýt văng ra. Thoại ngẩng lên nhìn cô, rồi nhìn cái đĩa, rồi nhìn cô lần nữa. Khoé miệng anh động đậy.
– Bảy cái là ba ngàn rưỡi. Cô bỏ năm nghìn thì tôi nợ cô ngàn rưỡi.
– Ghi vô nắp hũ đi.
– Ghi rồi. – Anh nói. – Nợ cũ chưa tính hết.
Ngày mười lăm tháng Mười Hai, hội đồng duyệt quy tắc dừng mới.
Ngưỡng do cô đặt: khi đàn chim từ năm con trở lên bay ở độ cao dưới hai trăm mét, trong vòng một cây số tính từ tháp. Lúc đó mà nước đang lên hoặc gió trên tám mét một giây, thì phòng điều khiển dừng ngay khi nhận lệnh. Ngoài các điều kiện đó, người giám sát vẫn có quyền gọi dừng bất cứ lúc nào thấy cần. Văn bản gửi về có chữ ký của chủ tịch hội đồng, ông Thái Bá Nghị, kèm một dòng viết tay ở lề: "Phương pháp tốt. Theo dõi số xác trong 30 ngày đầu áp dụng."
Tuần đầu áp dụng, số giờ dừng ở bốn tháp gần đầm giảm hơn sáu phần mười so với tuần trước. Số xác tìm được dưới chân tháp không tăng. Hạc ghi vào báo cáo tuần: "Một tuần chưa đủ để kết luận." Cô gạch chân câu đó hai lần.
Thoại đọc báo cáo, nhắn tin cho cô đúng một chữ: "Đúng."
Cô nhìn chữ đó một lúc lâu, rồi cất điện thoại.
Trong hai tuần đó có một chuyện khác xảy ra, mà Hạc chỉ thấy một góc.
Một buổi sáng, đi tìm xác dưới tháp Chín, cô thấy Lợi ngồi ở bậc thềm nhà vận hành, hai tay ôm đầu. Anh không đội mũ bảo hộ, không mặc đồ leo tháp. Anh mặc áo sơ mi, như người vừa đi đâu xa về.
– Anh Lợi?
Lợi ngẩng lên. Mắt anh đỏ.
– Cô Hạc.
– Anh sao vậy?
– Con Sương. – Anh nói. Giọng anh không còn cái nhanh nhảu thường ngày. – Tuần rồi nó mệt, chạy chút là thở dốc. Tụi em chở nó vô Phan Rang khám. Bác sĩ nghe tim, rồi cho siêu âm. Bác sĩ nói nó bị thông liên nhĩ. Tim có cái lỗ từ hồi mới sinh, giờ mới thấy.
Hạc ngồi xuống cạnh anh.
– Bác sĩ nói sao?
– Bác sĩ nói nhiều đứa bị, chữa được. Phải lên thành phố khám chuyên sâu, có thể phải mổ, hoặc làm cái gì đó qua đường ống, em không nhớ hết. – Lợi lau mặt bằng mu bàn tay. – Bảo hiểm trả phần lớn tiền mổ. Mà tiền đi lại, tiền ăn ở trên đó, tiền em với vợ nghỉ làm cả tháng. Vợ em bán bánh căn. Một ngày không bán là một ngày không có.
Hạc không biết nói gì. Cô đặt tay lên vai anh.
Cửa nhà vận hành mở ra. Thoại bước ra, tay cầm một cái phong bì giấy nâu. Anh thấy Hạc, khựng lại một nhịp, rồi bước tới, đưa cái phong bì cho Lợi.
– Hai mươi triệu. Tiền tao, không phải tiền công ty. Mày cầm đi lo cho con nhỏ. Khi nào có thì trả, không có thì thôi.
– Anh Thoại...
– Đừng nói gì. – Thoại nói. – Đi về với vợ con đi. Tháp Chín để tao kêu thằng Phước leo.
Lợi cầm cái phong bì, hai tay run. Anh đứng dậy, cúi đầu thật thấp, rồi đi. Thoại đứng nhìn theo cho tới khi xe Lợi khuất sau trạm biến áp. Rồi anh quay vào, không nói gì với Hạc.
Hai ngày sau, Hạc thấy một người lạ ở nhà máy.
Một người đàn ông chừng ba mươi lăm, áo sơ mi trắng bỏ trong quần tây, giày da bóng loáng. Anh ta đứng giữa cái sân cát mà giày không dính một hạt cát nào, như anh ta biết đặt chân vào đúng những chỗ có lát gạch. Anh ta ngồi ở bàn đá trong căng tin với Lợi, hai ly cà phê đá trước mặt. Lợi cúi đầu nghe, gật gật. Người kia nói nhỏ, nhẹ, tay đặt trên bàn, ngón tay gõ gõ theo nhịp.
– Ai vậy anh Tý? – Hạc hỏi.
Anh Tý liếc ra cửa sổ.
– Anh Sang. Đàm Vĩnh Sang. Trợ lý ông Lộc. – Anh nói, rồi quay lại màn hình. – Lâu lâu xuống. Lần nào xuống cũng ngồi uống cà phê với ai đó.
Tối thứ Sáu cuối tháng Mười Hai, mười một giờ, Hạc và Thoại lại ngồi trong phòng điều khiển. Cô đang viết báo cáo tuần, anh đang kiểm số liệu gió tháp Ba. Điện thoại anh đặt trên bàn, giữa hai người, úp mặt xuống. Nó rung. Anh đang đứng ở tủ hồ sơ, quay lưng lại. Nó rung lần nữa, trượt trên mặt bàn, lật ngửa lên.
Hạc không định nhìn. Nhưng màn hình sáng lên ngay dưới mắt cô, và chữ thì to.
"Trâm: Thứ Bảy tuần sau ông vô Phan Rang được không? Tui cần gặp ông. Ăn tối. Chuyện riêng. Đừng nói ai nghe ông."
— Hết chương 14 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe