AI Truyện
Dừng tháp Bốn ở đầm Bến Cò

💞 Ngôn tình

Mâm cơm tối thứ Bảy

Dừng tháp Bốn ở đầm Bến Cò · Chương 3/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 3: Mâm cơm tối thứ Bảy

Con Lu nghe tiếng xe máy từ đầu ngõ đã vọt ra, sủa ba tiếng, rồi im bặt, chỉ còn cái đuôi quất vào cột hiên bôm bốp. Bà Rỡ đang bưng nồi cá kho từ bếp lên, nói vọng ra:

– Nó về đó. Con nhỏ chim, ra mở cổng giùm cô.

Hạc chùi tay vào tạp dề, chạy ra. Trời vừa tắt nắng, ngõ nhà chìm trong cái màu xanh tím của chạng vạng. Một người đàn ông dắt xe vào, con Lu nhảy chồm lên ngực anh, bốn chân cào loạn xạ.

– Lu, xuống. Xuống. Mập quá rồi mày.

Giọng đó. Hạc đứng sững ở cánh cổng, một tay còn nắm cái chốt sắt.

Thoại ngẩng lên. Anh mặc áo thun xám, quần kaki, không mũ bảo hộ, không đồng phục, tóc còn ướt như vừa tắm xong. Anh nhìn cô. Nhìn cái tạp dề hoa của má anh đang buộc ngang eo cô. Nhìn cái muôi gỗ cô cầm trong tay kia mà cô quên chưa để xuống.

Con Lu vẫn chồm lên chồm xuống giữa hai người, thè lưỡi, sung sướng.

– Cô Hạc.

– Anh Thoại.

– Cô làm gì ở đây?

– Tôi ở trọ. – Hạc nghe giọng mình đi ra như của ai khác. – Ở đây. Phòng sau.

Thoại im một lúc. Rồi anh nhìn xuống con chó, như thể nó có lỗi trong chuyện này.

– Phòng sau là phòng tôi.

– Tôi biết. Cô Sáu nói phòng của con trai. – Hạc ngừng lại. – Cái máy bay bằng lon bia.

– Tôi làm năm lớp sáu.

– Nó bám bụi.

– Hai chục năm rồi.

Bà Rỡ bước ra hiên, tay vẫn cầm đôi đũa cả.

– Hai đứa đứng ngoài đó làm gì? Vô ăn cơm. Thoại, đây là con nhỏ chim má nói với con đó. Con nhỏ làm trên mấy cái quạt của con, nghiên cứu cái gì mà...

– Dạ, con biết rồi má. – Thoại dựng xe, rút chìa khoá. – Cô Hạc là người gọi con dừng quạt.

Bà Rỡ đứng im mất hai giây. Rồi bà cười. Bà cười tới mức phải vịn vào cột hiên, đôi đũa cả trong tay rung bần bật.

– Trời đất ơi! Vậy ra con là người làm nó than! Cả tuần nay nó gọi về, má ơi, có người kêu dừng tháp mười một lần một ngày, má ơi, gió vậy mà đứng cả tiếng. Tui còn tưởng ai! – Bà chỉ đũa vào Hạc. – Con nhỏ này!

Hạc không biết làm gì với hai bàn tay mình. Cô cởi tạp dề ra, gấp lại, rồi thấy gấp tạp dề lúc này kỳ quá, lại mở ra.

Linh từ phòng sau đi lên, tóc còn quấn khăn, thấy cảnh ngoài sân thì đứng lại.

– Ủa, ai vậy chị?

– Anh Thoại. – Hạc nói. – Quản lý vận hành nhà máy. Con trai cô Sáu.

Linh nhìn Thoại, nhìn Hạc, nhìn bà Rỡ, rồi đưa tay lên bịt miệng.

Mâm cơm dọn trên bộ ván gỗ ngoài hiên, có quạt trần quay chậm. Cá nục kho tiêu trong cái nồi đất, nước kho sánh như mật, mấy lát ớt đỏ nằm trên mặt. Một tô canh chua nấu với me và cà chua, cá đối cắt khúc, rắc ngò om. Dĩa rau muống luộc, chén nước mắm tỏi ớt. Và ở giữa mâm, một cái hộp thiếc tròn, nắp có vẽ hoa mai đã tróc sơn. Thoại mở nắp hộp. Bên trong là muối hột rang với ớt bột, đỏ au, mùi thơm cay xộc lên tận mũi.

– Muối nhà làm. – Bà Rỡ nói với hai cô gái. – Muối ruộng nhà, ớt nhà, rang bằng chảo gang. Thằng Thoại đi đâu cũng mang theo một hộp. Ở bên nhà máy nó chấm cơm hộp với cái này.

– Má.

– Thì má nói thiệt.

Hạc chấm một miếng cá vào muối ớt. Cay. Cay tới mức nước mắt rưng rưng, nhưng cái cay đi kèm một vị mặn ngọt rất sâu, khác hẳn muối mua ở chợ.

– Muối ở đây ngọt.

– Muối phơi nắng gió đủ ngày thì ngọt. – Bà Rỡ gật gù. – Muối người ta làm vội, phơi ba bữa đã cào, mặn chát.

Một lúc, không ai nói gì, chỉ có tiếng đũa chạm chén và tiếng Linh húp canh rột rột. Rồi Thoại đặt chén xuống.

– Chuyện cô ở trọ đây. – Anh nói, giọng như đang mở đầu cuộc họp. – Cô định làm sao?

– Ý anh là sao?

– Cô là người giám sát độc lập. Cô không nhận của nhà máy một chai trà. Giờ cô ở nhà má của quản lý vận hành.

– Má anh đâu phải nhà máy.

– Thì đúng. Nhưng người ta nhìn vô người ta không nghĩ vậy.

Hạc đặt đũa xuống, nhìn thẳng vào anh. Cô đã nghĩ chuyện này từ lúc đứng ở cánh cổng.

– Tôi sẽ ghi vào báo cáo tháng. Ghi rõ: người giám sát thuê phòng của bà Đặng Thị Rỡ, mẹ ông Hứa Đình Thoại, quản lý vận hành, giá một triệu tám một tháng, trả bằng tiền của viện, có hợp đồng thuê. Hội đồng thấy không ổn thì tôi dọn đi. Thấy ổn thì tôi ở.

Thoại nhìn cô. Anh gật đầu.

– Cô ghi đi. Ghi rõ vậy.

– Anh không phản đối?

– Sao tôi phản đối? Cái gì ghi ra giấy, ai đọc cũng thấy, thì đâu có gì để sợ.

Bà Rỡ nhìn qua nhìn lại hai người như coi một trận bóng chuyền.

– Hai đứa nói gì mà như ra toà vậy? Ăn cơm đi. Cá nguội rồi.

Nhưng Thoại không ăn ngay. Anh hỏi tiếp, lần này nhỏ giọng hơn.

– Chín lần dừng hôm thứ Hai, cô ghi lại được hết độ cao bay?

– Hết. Từ thứ Hai tới giờ, bốn mươi ba lần dừng, tôi ghi hết.

– Bốn mươi ba lần. – Thoại lặp lại. Anh không than, chỉ nói con số như người ta nói thời tiết. – Một tuần tháp Bốn đứng tổng cộng chín tiếng.

– Một tuần tôi tìm được năm xác dưới bốn cái tháp gần đầm. Bốn con chim, một con dơi. Trong đó ba con chim chết đúng giờ có đàn bay ngang mà tôi gọi chậm.

– Gọi chậm?

– Tôi gọi lúc thấy. Lúc thấy thì đã trễ.

Thoại nghĩ một lúc.

– Vậy cô cần thấy sớm hơn.

– Tôi cần thêm người. Thêm một chòi. Cần biết chim hay bay giờ nào, hướng nào, độ cao nào, gió nào. Mà muốn biết thì cần thời gian. Trong lúc chờ biết, tôi gọi dừng nhiều hơn mức cần.

– Bao lâu thì cô biết?

– Ba tháng, có hình. Sáu tháng, có số.

– Vậy ba tháng nữa mình nói chuyện tiếp. – Anh cầm đũa lên. – Còn giờ ăn cơm.

Linh, ngồi giữa hai người, nãy giờ không dám gắp, giờ mới đưa đũa vào dĩa cá. Bà Rỡ thở ra một tiếng như vừa coi xong một tập phim dài.

Câu chuyện chỉ nóng lên lần nữa khi Linh hỏi, giọng ngây thơ, mấy cái tháp đó có cần thiết không, ở Buôn Ma Thuột nhà em có điện mặt trời trên mái rồi. Thoại không cười. Anh kể cho Linh nghe, chậm rãi, như kể cho một đứa em. Hồi anh nhỏ, xóm muối này mỗi tối mất điện ba bốn lần, cả xóm thắp đèn dầu. Mùa gió, cát bay vào ruộng muối, muối lẫn cát bán không được giá. Con trai trong xóm lớn lên là đi, đi Sài Gòn, đi Bình Dương, đi biển xa. Giờ nhà máy có bốn chục người làm, mười lăm người là dân Phước Diêm. Đường bê tông từ quốc lộ vô tới đầm là tiền nhà máy đổ.

– Anh nói như người bán hàng. – Hạc nói.

– Tôi nói số.

– Thì tôi cũng nói số. – Hạc đặt đũa xuống lần nữa. – Mấy con choắt chân đỏ anh thấy trên bãi đó, có con bay từ tận vùng lạnh phương bắc, có con bay xuống tới Úc. Một năm hai lần đi về, mấy nghìn cây số. Dọc đường chúng nó cần những chỗ như đầm Bến Cò này để ăn, để nghỉ, như xe chạy đường dài cần trạm đổ xăng. Mất một trạm thì chưa sao. Mất ba bốn trạm liền thì cả đàn không tới nơi được. Mà trạm đổ xăng thì hai bên đường còn xây lại được. Bãi bùn thì không.

– Tôi đâu có lấp bãi bùn.

– Tám cái tháp anh định xây, bốn cái cắm sát mép bãi.

– Tôi không định. Công ty định. Hội đồng duyệt hay không là chuyện của hội đồng. – Thoại cũng đặt đũa xuống. – Còn chuyện của tôi là bốn cái tháp đang có phải chạy mà không giết thêm con nào nữa.

– Vậy anh làm sao?

– Thì cô gọi. Tôi dừng.

Bà Rỡ gõ đũa vào thành nồi cái cạch.

– Thôi! Ăn cơm mà cãi như đực với cái. – Bà xới thêm cơm cho cả hai, mỗi người một vá đầy. – Tui làm muối bốn chục năm, tui nói hai đứa nghe. Gió làm khô muối, mưa làm tan muối. Có năm gió dữ, cát bay vô ruộng, tui khóc. Có năm mưa sớm, muối chưa kịp cào đã tan sạch, tui cũng khóc. Mà tui có bao giờ chửi trời đâu. Trời đâu có chọn phe. Người làm muối phải coi trời mà làm. Nghe chưa?

Thoại cúi xuống ăn. Hạc cũng cúi xuống ăn. Linh cười khúc khích, bị bà Rỡ trừng mắt, cũng cúi xuống ăn.

Gần cuối bữa, có tiếng dép lẹp xẹp ngoài ngõ. Ông Chín đi ngang, tay xách một con cá hồng to bằng bàn tay xỏ sợi lác, con Mực lẽo đẽo theo sau. Thấy đèn hiên sáng, ông dừng ở cổng.

– Sáu. Tui có con cá, mai để tui đem qua cho bà.

– Ờ, cảm ơn ông.

Thoại đặt chén xuống. Anh không quay ra cổng. Anh ngồi yên, lưng thẳng, mắt nhìn vào mâm, hai tay đặt lên đùi. Trong mấy giây đó, cả bộ ván gỗ như lạnh hẳn đi, dù quạt trần vẫn quay đều và nồi cá kho vẫn còn bốc khói.

Ông Chín nhìn vào trong. Ông thấy Thoại. Ông không nói gì thêm, gật đầu với bà Rỡ một cái rồi đi tiếp. Con Lu chạy ra cổng sủa theo con Mực, con Mực không thèm sủa lại.

Thoại cầm chén lên ăn tiếp như chưa có gì. Nhưng tới khi bà Rỡ hỏi anh có ăn thêm cá không, anh lắc đầu, đứng dậy, đi ra sau rửa tay.

Lúc rửa chén ở cái lu nước sau bếp, Hạc hỏi nhỏ:

– Cô Sáu, anh Thoại với chú Chín có chuyện gì hả cô?

Bà Rỡ đang úp chén vào rổ, tay khựng lại một nhịp rồi làm tiếp.

– Chuyện cũ.

– Dạ.

– Chuyện cũ lắm rồi. – Bà nói, vẫn không nhìn cô. – Con đừng hỏi nó. Nó không nói đâu. Mà nó nói thì nó buồn.

Chín giờ, Thoại dắt xe ra. Anh trực đêm nay, phải về nhà máy. Trước khi đi, anh mở cốp xe, lấy ra một cái bộ đàm còn mới, đưa cho Linh.

– Em cầm cái này. Kênh ba. Tuần sau em lên chòi số Hai thì có cái mà gọi.

– Chòi số Hai đâu có ai xây đâu anh?

– Sáng thứ Hai có người dựng. – Anh quay sang Hạc. – Cô nói cô cần thêm chòi. Chòi số Hai nằm trên gò cát phía đông, nhìn được từ tháp Năm tới tháp Mười Hai. Tôi đã báo hội đồng là nhà máy dựng theo yêu cầu của người giám sát, ghi trong biên bản. Không phải quà.

– Anh tính chuyện này hồi nào?

– Tối thứ Hai, sau khi cô gọi dừng mười một lần.

Hạc không biết nói gì. Anh cũng không đợi cô nói gì. Anh đội mũ bảo hiểm, rồ máy, con Lu đuổi theo tới tận đầu ngõ mới quay về.

Mười giờ đêm, Hạc ngồi bên cái bàn gỗ kê sát cửa sổ trong căn phòng của người ta, mở sổ ra viết báo cáo ngày. Trên nóc tủ, cái máy bay lon bia đứng im trong bóng tối, cánh quạt nắp lon hơi nghiêng. Ngoài cửa sổ, đèn đỏ trên các nóc tháp vẫn chớp cùng một nhịp.

Điện thoại rung. Một số lạ. Tin nhắn ngắn, không dấu chấm cuối câu, không lời chào:

"Thứ Năm này tổng giám đốc xuống nhà máy. Ông dẫn theo người làm số liệu chim hai năm trước. Cô chuẩn bị"

Hạc nhìn tin nhắn một lúc lâu. Cô gõ: "Chuẩn bị gì?"

Ba phút sau mới có trả lời.

"Chuẩn bị nghe người ta nói số của họ đúng"

— Hết chương 3 —

Mục lục Dừng tháp Bốn ở đầm Bến Cò

  1. 1Mười một lần dừng tháp Bốn12 phút đọc
  2. 2Ông già vác lưới11 phút đọc
  3. 3Mâm cơm tối thứ Bảy11 phút đọc
  4. 4Hai bộ số12 phút đọc
  5. 5Bốn mươi con chim cút11 phút đọc
  6. 6Người leo tháp12 phút đọc
  7. 7Lưới tàng hình10 phút đọc
  8. 8Trung thu trên đồi cát10 phút đọc
  9. 9Chữ ký ở trang cuối10 phút đọc
  10. 10Một ngày của Thoại11 phút đọc
  11. 11Mười bốn ngày và hai ngày11 phút đọc
  12. 12Đêm áp thấp ở chòi quan sát11 phút đọc
  13. 13Mái nhà ông Chín10 phút đọc
  14. 14Bảy triệu một giờ11 phút đọc
  15. 15Ghen10 phút đọc
  16. 16Hai mươi ba tháng Chạp10 phút đọc
  17. 17Giao thừa ở chòi số Một11 phút đọc
  18. 18Tấm ảnh12 phút đọc
  19. 19Ba cái tên trong một phong bì12 phút đọc
  20. 20Người thay thế11 phút đọc
  21. 21Nha Trang không có gió11 phút đọc
  22. 22Đơn xin thôi việc chưa nộp12 phút đọc
  23. 23Trà đá năm nghìn10 phút đọc
  24. 24Phiên hội đồng thứ nhất10 phút đọc
  25. 25Ghi chú cuối bảng số liệu10 phút đọc
  26. 26Giường số chín10 phút đọc
  27. 27Đêm năm hai nghìn lẻ bốn11 phút đọc
  28. 28Lạch Ông Lành10 phút đọc
  29. 29Lời khai của người leo tháp10 phút đọc
  30. 30Bản đồ mới11 phút đọc
  31. 31Cờ chân màu nõn chuối10 phút đọc
  32. 32Hai mươi bốn giờ trước phiên họp10 phút đọc
  33. 33Phiên hội đồng cuối10 phút đọc
  34. 34Một năm hợp đồng10 phút đọc
  35. 35Đếm giùm anh10 phút đọc
  36. 36Muối mùa mới10 phút đọc

Về truyện này

Dừng tháp Bốn ở đầm Bến Cò là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →