Chương 20: Người thay thế
– Em là Linh hả? Chị cần em chỉ cho chị tuyến tìm xác. Em ghét chị cũng được, nhưng chỉ tuyến trước rồi ghét sau.
H'Linh Niê đứng ở bậc thang chòi số Một, tay ôm cái sổ thực địa, nhìn người phụ nữ vừa nói câu đó. Tóc cắt ngang vai. Không kính râm. Áo dài tay chống nắng màu cát, quần túi hộp, giày đi bộ đường dài đã mòn gót. Không phải đôi giày gót nhọn hồi tháng Chín, cái đôi lún xuống cát thành những lỗ tròn sâu hoắm mà chị Hạc nhìn theo rất lâu.
Lại Bảo Trâm. Người giám sát tạm thời do hội đồng thẩm định chỉ định, kể từ hôm nay, hai mươi tháng Ba.
– Em không ghét chị. – Linh nói. Rồi nghĩ một chút, nói thêm cho đúng: – Em chưa quyết.
Trâm gật đầu như vừa nhận một con số hợp lý.
Hai tuần nay Linh đã nghe đủ chuyện. Chị Hạc đi ngày sáu tháng Ba. Văn bản hội đồng về ngày mười ba. Chấp thuận cho bà Kiều Thu Hạc rút khỏi hợp đồng. Giao số liệu sáu tháng cho một đơn vị thứ ba kiểm tra. Chỉ định người thay thế tạm thời trong khi chờ chọn đơn vị chính thức. Người thay thế, hoá ra, là người làm số liệu hai năm mười bốn ngày một lần.
Anh Tý kể cho Linh nghe, giọng như đọc giờ tàu: chị Trâm không còn làm cho công ty Lam Phương nữa. Đầu tháng Hai chị chuyển sang một trung tâm tư vấn sinh thái lớn ở Quy Nhơn, chỗ mà anh Thoại viết thư giới thiệu cho chị. Hội đồng cần người có chứng chỉ, biết hiện trường, nhận việc được ngay, mà chị là người duy nhất đứng đủ ba điều. Hội đồng ghi thêm một dòng: người giám sát tạm thời phải áp dụng nguyên phương pháp của người giám sát trước, không được thay đổi tần suất, không được thay đổi quy tắc dừng.
– Thư giới thiệu của sếp đó. – Anh Tý nói. – Giờ người được giới thiệu ngồi vô chỗ chị Hạc. Cải lương cũng không viết được tuồng vầy.
Trâm leo lên chòi, đặt ba lô xuống. Từ trong ba lô, chị lấy ra một bình nước hai lít, đặt dưới chân bàn.
– Chị tự mang nước? – Linh hỏi.
– Chị học của chị Hạc em. – Trâm nói, không ngẩng lên. – Hồi tháng Chín chị nghĩ con nhỏ đó làm màu. Giờ thì chị biết rồi.
Rồi chị thấy cái hũ nhựa.
Nó vẫn đứng trên bàn gỗ, đúng cái vệt tròn nhạt màu của nó. Không ai dám dời đi. Bà Rỡ có lên một lần định cầm về, rồi đứng nhìn nó một lúc lâu, lại để nguyên. Trâm cúi xuống đọc nắp hũ. Dòng chữ tròn nghiêng: "Tiền trà. Nợ: 0". Dòng chữ in hoa thẳng hàng bên dưới: "NỢ CŨ CHƯA TÍNH HẾT".
Chị đọc hai lần. Rồi chị đứng thẳng dậy, không chạm vào nó.
– Cái này để đó. – Chị nói. – Không phải của chị.
Linh quyết định, lúc đó, rằng có lẽ mình sẽ không ghét chị Trâm. Nhưng chưa nói ra.
Buổi sáng đầu tiên, chị Trâm không gọi dừng lần nào.
Gió đông bắc đã yếu, chỉ còn cấp ba, cấp bốn. Chim đông. Bãi bùn bờ bắc mỗi lúc nước ròng có cả nghìn con, phần lớn đang thay lông, bộ lông xám mùa đông lốm đốm những mảng nâu đỏ của mùa sinh sản. Chúng ăn như điên, ăn để có mỡ cho chuyến bay dài lên phương bắc. Linh biết điều đó vì chị Hạc dạy, hồi tháng Hai, chỉ từng con trên ống kính: con này sắp đi, coi cái bụng nó kìa, tròn như trái chanh.
Mười giờ, một bầy choắt chân đỏ chừng bốn chục con cất lên từ bãi trong, bay thấp về phía tháp Ba. Linh nhìn đồng hồ, nhìn mặt nước. Nước đang lên. Linh nhìn sang chị Trâm. Chị Trâm đang nhìn bầy chim qua ống nhòm, môi mím lại, tay không chạm vào bộ đàm.
– Chị. – Linh nói.
– Chị thấy.
– Nước lên. Dưới hai trăm mét. Trong một cây số. Đủ điều kiện.
– Gió chưa tới tám mét.
– Nước lên là đủ, chị. Một trong hai. "Hoặc". Chị đọc quy tắc chưa?
Trâm hạ ống nhòm xuống, nhìn Linh. Lần đầu tiên Linh thấy chị lúng túng. Rồi chị chụp lấy bộ đàm.
– Phòng điều khiển, chòi số Một. Dừng tháp Ba.
Bộ đàm rè một nhịp. Rồi giọng trầm, chậm:
– Tháp Ba đang dừng. Bốn mươi giây.
Không phải giọng anh Tý. Linh nghe ra ngay. Chị Trâm cũng nghe ra.
Bầy choắt bay qua tháp Ba lúc cánh đã chậm hẳn. Linh đếm. Không con nào rơi.
– Chòi số Một. Tháp Ba chạy lại được.
– Chòi số Một. – Giọng anh Gió nói. – Hợp đồng ghi sáu mươi giây. Người gọi là ai thì cũng sáu mươi giây. Chị thấy chim thì cứ gọi. Không cần chờ chắc.
Bộ đàm im.
Trâm đứng nhìn cái bộ đàm trong tay một lúc lâu. Rồi chị cười, cái cười khô khốc mà Linh không hiểu.
– Ông này. – Chị nói, không biết với ai. – Hai năm tui làm ở đây, ổng chưa nói với tui một câu nào trên bộ đàm.
– Hồi đó đâu có ai gọi dừng, chị. – Linh nói.
Trâm quay sang nhìn Linh. Lần này chị không cười.
– Ừ. – Chị nói. – Hồi đó đâu có ai gọi.
Tới chiều, Trâm gọi dừng chín lần. Lần nào cũng nói "cảm ơn". Lần nào bên kia cũng trả lời: "Không có chi." Linh nghe câu đó và thấy nhói một chút ở đâu đó dưới xương ức. Hồi tháng Hai, mỗi lần chị Hạc nói cảm ơn, anh Tý trả lời: "Để tôi chuyển lời." Giờ không ai chuyển lời cho ai nữa.
Ba ngày đầu, Linh quan sát chị Trâm như quan sát một loài chim lạ.
Chị dậy sớm. Năm giờ có mặt ở chân tháp Một, trước cả ông Chín. Chị đi tuyến tìm xác chậm hơn chị Hạc, cúi thấp hơn, có lúc quỳ hẳn xuống cát để nhìn cho kỹ một cái lông. Chị hỏi nhiều. Hỏi ông Chín con Mực hay tha xác về đâu. Hỏi chị Gấm đi cát buổi sáng sớm thì chân có lún hơn buổi trưa không. Hỏi cậu Hiếu làm sao nhìn ra được cái lông bằng móng tay giữa đám cỏ lông chông. Cậu Hiếu nghĩ một lúc, nói: "Em nhìn chỗ nào không giống cỏ." Chị ghi câu đó vào sổ.
Ông Chín không nói chuyện với chị. Ông chỉ dẫn đường. Tới cái lõm cát dưới rừng phi lao, ông dừng lại, chỉ tay, rồi đứng nhìn chị ngồi xuống giữa những đám lông chim bạc màu mà hai năm chị làm ở đây không ai tới đếm. Chị ngồi đó rất lâu.
– Hai năm. – Chị nói, không ngẩng lên. – Hai năm tui không vô tới đây.
– Cô có hỏi đâu. – Ông Chín nói.
Đó là câu duy nhất ông nói với chị trong ba ngày.
Ban đêm, Linh hay ngồi ở cửa sổ phòng mình nhìn ra đồi cát. Từ chỗ cái chuồng gà, nhìn xéo qua mấy ô ruộng muối, thấy được cái chòi số Một nhỏ xíu trên đỉnh đồi, đen thẫm trên nền trời. Đêm thứ hai, Linh thấy dưới gốc keo chân đồi có ánh đèn xe máy tắt. Rồi một bóng người đi lên dốc cát, bước thẳng, không khuỵu gối.
Bóng người đó ngồi trên chòi tới mười một giờ. Không có ánh đèn nào. Chỉ có một cái bóng ngồi im giữa bốn cây cột bê tông, nhìn ra đầm.
Linh lấy điện thoại, chụp một tấm. Chụp đêm, tối om, chỉ thấy được cái chòi với hàng đèn đỏ trên nóc tháp phía sau. Cái bóng người thì không ra hình gì. Linh nhìn tấm ảnh một lúc, mở hộp tin nhắn, gõ tên chị Hạc. Rồi xoá. Rồi gõ lại. Rồi để đó, không gửi.
Ngày thứ tư, anh Sang xuống.
Linh nhận ra anh ta từ xa, nhờ đôi giày. Vẫn đôi giày da bóng loáng đó, vẫn cái áo sơ mi trắng bỏ trong quần tây, vẫn cái cách bước đi trên sân cát mà không dính một hạt cát, như biết đặt chân đúng những viên gạch lát. Anh ta đi thẳng lên chòi số Một, cầm theo một túi nước suối đóng chai, mười hai chai.
– Chào chị Trâm. Chào em. – Anh ta cười. Cái cười rộng, đều, giống y cái cười của ông Lộc hồi tháng Chín. – Công ty cử tôi xuống hỗ trợ đơn vị giám sát mới làm quen hiện trường. Chị cần gì cứ nói.
– Tôi không cần gì. – Trâm nói. – Nước tôi tự mang.
– Thì để đó, khát thì uống.
– Anh mang về. Tôi không nhận gì của bên nhà máy.
Sang nhìn chị một giây. Rồi anh ta cười, xách túi nước xuống. Linh nhìn theo cái lưng áo trắng, rồi nhìn sang chị Trâm. Chị đang nhìn cái hũ tiền trà.
Sáng hôm sau, anh Sang đi theo đoàn tìm xác. Anh ta không cúi xuống tìm, chỉ đi phía sau, tay cầm điện thoại, lâu lâu chụp một tấm. Anh ta hỏi han chị Gấm chuyện nhà, hỏi cậu Hiếu học tới lớp mấy. Anh ta không hỏi ông Chín câu nào. Ông Chín cũng không nhìn anh ta.
Sáng thứ Ba, hai mươi bốn tháng Ba, cậu Hiếu thấy nó.
Tuyến thứ năm dưới tháp Ba, cách chân tháp chừng ba chục mét về phía đầm. Hiếu đứng sững, giơ tay lên, không nói gì. Đó là cách cậu báo, từ hồi chị Hạc dạy: thấy xác thì đứng im, giơ tay, để người kiểm tới trước khi ai giẫm lên dấu vết.
Trâm tới. Linh tới. Ông Chín tới, con Mực bị giữ chặt bằng sợi dây dù trong tay ông.
Con chim nằm nghiêng trên cát, cánh phải gãy gập. Nó to hơn choắt chân đỏ, chân ngắn, màu vàng xỉn. Cái mỏ hơi cong lên ở đầu, gốc mỏ vàng nhạt. Lông lưng xám lốm đốm những vệt đen như ai rắc tro.
Linh biết con này. Không phải vì đã thấy nó ngoài đời. Vì chị Hạc đã chỉ cho Linh xem trong sách hồi tháng Mười Hai. Chị nói: con này cả thế giới chỉ còn chừng một, hai nghìn con, nếu em thấy nó ở đầm Bến Cò thì gọi chị dậy dù là ba giờ sáng.
– Choắt lớn mỏ vàng. – Linh nói. Giọng em run.
Trâm ngồi xổm xuống. Chị không chạm vào con chim. Chị chỉ nhìn: cái chân, cái mỏ, cái cánh gãy. Rồi chị lấy điện thoại ra, chụp. Một tấm. Hai tấm. Ba tấm, có cây thước nhựa đặt bên cạnh.
– Còn tươi. – Chị nói. – Mắt còn ướt. Chết chưa tới sáu tiếng. Cánh gãy kiểu va. Không vết răng.
Phía sau lưng mọi người, Sang bước tới. Lần này anh ta không đứng trên gạch. Đôi giày da lún xuống cát tới mắt cá.
– Chị Trâm. – Anh ta nói, giọng nhẹ, tròn. – Tôi hỏi một chút. Con này loài hiếm hả chị?
– Loài nguy cấp.
– Vậy là phải báo hội đồng ngay hả chị?
– Phải báo trong ngày.
Sang gật đầu, như ghi nhận. Anh ta nhìn con chim, nhìn tháp Ba đang quay đều phía trên, nhìn chị Trâm.
– Tôi không rành chuyên môn. – Anh ta nói. – Nhưng tôi thấy con này còn tươi quá. Đêm qua gió nhẹ, tháp Ba có khi không chạy tới tốc độ đó. Biết đâu nó chết chỗ khác, chó tha về đây rồi bỏ. – Anh ta liếc con Mực. – Mình báo vội, lỡ sai, hội đồng lại bảo đơn vị mới làm ẩu, giống hồi trước.
Không ai nói gì.
– Tôi nghĩ thế này. – Sang nói tiếp, giọng vẫn nhẹ. – Mình cứ để nguyên đó. Chiều nay tôi hỏi bên kỹ thuật xem đêm qua tháp Ba chạy ra sao. Sáng mai mình đi tuyến lại, tìm lại cho đúng quy trình. Có số liệu vận hành đi kèm rồi mới báo. Chị thấy được không?
Linh nhìn con chim trên cát. Rồi em nhìn con Mực. Con chó đang ngồi im bên chân ông Chín, mũi khịt khịt về phía cái xác, đuôi quẫy nhẹ trên cát.
Em nhớ câu ông Chín nói với chị Hạc hồi tháng Tám, cái câu chị Hạc kể lại cho em nghe mấy lần. Chị nói đó là câu đầu tiên làm chị tin ông: nửa tháng thì con Mực ăn xong từ lâu rồi.
Không cần nửa tháng. Chỉ cần một đêm.
Linh quay sang nhìn chị Trâm. Chị Trâm đang nhìn Sang. Gương mặt chị không có biểu cảm gì. Nhưng cây thước nhựa trong tay chị, cái thước chị vừa đặt cạnh con chim để chụp ảnh, đang bị bóp chặt tới mức cong lại.
– Để mai tìm lại. – Sang nói lần nữa, nhẹ như gió. – Chị thấy sao, chị Trâm?
— Hết chương 20 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe