Chương 7: Lưới tàng hình
Hạc xuống tới chân tháp lúc sáu giờ mười, tháo dây an toàn ra mà không cần ai giúp, ném vào tay Lợi, rồi chạy.
Cô không chạy về chòi, không chạy về nhà. Cô chạy dọc con đường mòn ven đầm, về phía cuối xóm, phía cái nhà mái tôn có cây me. Cát lún tới mắt cá. Cái ống nhòm đập vào ngực từng nhịp. Đằng sau, cô nghe tiếng chân Thoại, nặng và đều, không đuổi kịp, cũng không bỏ cách xa.
Ông Chín đang ngồi ăn cơm ngoài hiên. Một cái mâm nhôm, một chén cơm, một dĩa cá khô nướng, một chén nước mắm. Con Mực nằm dưới chân, ngoạm khúc xương cá. Thấy Hạc đứng thở hổn hển ở cổng, ông đặt chén xuống.
– Chuyện gì đó?
– Chú. – Hạc nói, rồi phải dừng lại thở. – Chú có giăng lưới không?
Ông Chín nhìn cô. Ông không trả lời ngay. Ông nhìn qua vai cô, thấy Thoại vừa dừng lại ở đầu ngõ, cách cổng mười bước, hai tay chống gối.
– Tui đốt rồi. – Ông nói. – Cô thấy tui đốt mà.
– Con thấy có người giăng lưới. Góc tây đầm, chỗ mấy cây đước. Ba cây sào, hai tấm lưới. Người đó đội nón lá, áo tối.
– Góc tây. – Ông Chín lặp lại. Ông đứng dậy, chậm, phủi cơm dính trên vạt áo. – Không phải tui. Cô coi tay tui nè.
Ông chìa hai bàn tay ra. Khô, sạch, móng tay cắt ngắn, không dính bùn.
Hạc đứng im. Mặt cô nóng bừng, không phải vì chạy. Cô đã nghi ông. Cô đã chạy cả cây số từ chân tháp tới đây, trong đầu chỉ có một ý nghĩ: ông già vác lưới, lưới ông nói đã đốt, người đội nón lá trong ống kính. Cô đã không nghĩ tới chuyện ông đang ngồi ăn cơm.
– Con xin lỗi chú.
– Xin lỗi gì. – Ông Chín nói, giọng không giận, chỉ mệt. – Cô thấy người giăng lưới, cô nghĩ tới thằng già giăng lưới. Cả xóm này ai cũng nghĩ vậy, hai chục năm nay.
Ông đi vào trong nhà. Một lúc sau ông trở ra, tay cầm một cây đèn pin cũ, thân nhôm trầy xước, mặt kính bọc một lớp giấy kiếng màu đỏ, quấn băng keo đen quanh mép. Ông bật thử. Một vệt sáng đỏ mờ quét qua sân, như ánh than hồng.
– Góc tây là chỗ dân buôn chim ở mấy xã kế bên hay vô. – Ông nói. – Mùa chim về, tụi nó giăng chiều, sáng sớm gỡ. Chim mắc lưới cả đêm, con nào yếu thì chết, con nào khoẻ thì giãy tới gãy cánh. Sáng ra tụi nó lựa con còn sống bán cho quán nhậu, con chết vứt luôn.
– Mình phải gỡ.
– Thì đi.
Thoại bước tới cổng. Anh đã thở lại được. Anh nhìn cây đèn đỏ trên tay ông Chín. Hạc thấy anh nhìn nó rất lâu, lâu hơn mức một người nhìn một cây đèn pin.
– Gọi công an xã trước. – Anh nói. – Bẫy chim hoang dã là vi phạm. Có người lập biên bản thì lưới mới thành tang vật, mới truy được ai mua ai bán. Mình tự gỡ thì mai tụi nó giăng chỗ khác.
– Đợi công an xã tới thì chim chết hết. – Ông Chín nói, không nhìn Thoại.
– Gọi rồi đi. Không đợi.
Hai người đàn ông đứng cách nhau một cái cổng tre, không ai nhìn ai. Rồi Thoại rút điện thoại ra, bấm số. Anh nói ngắn gọn, rõ ràng: địa điểm, số lưới, thời điểm phát hiện, người phát hiện, số điện thoại liên lạc. Đầu dây bên kia hứa sẽ cử người ra, nhưng trụ sở cách đây mười mấy cây số, sớm nhất cũng một tiếng.
– Đi. – Anh nói, cất điện thoại.
Trời tối rất nhanh. Đêm cuối tháng, không có trăng. Chỉ có sao, dày đặc, và đèn đỏ trên mười hai nóc tháp chớp đều cùng một nhịp ở phía sau lưng. Ông Chín đi trước, cây đèn đỏ chiếu xuống đất, vệt sáng chỉ đủ thấy chỗ đặt chân. Hạc đi giữa, ôm túi đồ nghề có kéo nhỏ, bao tay, túi vải. Thoại đi sau cùng, cầm một cây đèn pin lớn của nhà máy, ánh trắng chói, chiếu rộng.
– Tắt đèn trắng đi. – Ông Chín nói, vẫn không quay lại. – Chim thấy đèn trắng là giãy. Giãy là gãy cánh.
Thoại tắt đèn.
Họ đi dọc bờ bắc, vòng qua mép ruộng muối, rồi rẽ xuống con đường đất đắp chạy ra phía tây. Mặt đầm bên tay trái tối đen, chỉ nghe tiếng nước óc ách. Nước đang ròng. Mùi bùn bốc lên nồng hơn ban ngày. Thỉnh thoảng có tiếng chim kêu trong đêm, ngắn, sắc, như ai thổi còi.
Đường đất hết. Trước mặt là bãi bùn, và xa xa, chỗ mấy cái bóng đen lởm chởm, là mấy cây đước.
Ông Chín dừng lại, chiếu đèn đỏ xuống mặt bùn.
– Tới đây phải lội. Lạch này nước ròng còn tới đầu gối. Bùn dưới đáy chắc. Đi theo dấu chân tui, đừng đi lệch.
Hạc xắn ống quần, bước xuống. Nước lạnh. Bùn ngập tới bắp chân rồi dừng lại, chắc như ông nói. Cô bước thêm một bước, rồi quay lại.
Thoại đứng trên bờ.
Đúng chỗ đất đắp gặp bùn. Giống hệt chiều hôm đó dưới chân tháp Một, nhưng giờ là đêm, và anh không có gì để làm với hai tay. Anh đứng thẳng, cây đèn pin tắt cầm trong tay phải, tay trái nắm lại. Cô không thấy rõ mặt anh, chỉ thấy cái bóng của anh in lên nền trời đầy sao.
– Anh ở đây. – Cô nói. Không phải câu hỏi.
– Tôi ở đây. – Anh nói. – Cô cần gì thì gọi.
Ông Chín cũng quay lại, nhìn lên chỗ Thoại đứng. Vệt đèn đỏ trong tay ông dừng lại trên mặt nước một lúc lâu. Rồi ông quay đi, không nói gì.
Lưới thứ nhất có bốn con chim.
Trong ánh đèn đỏ, chúng trông như những túm lá khô mắc vào mạng nhện. Hạc tới gần, và chúng giãy lên, kêu những tiếng nhỏ, đứt quãng. Ông Chín hạ đèn thấp xuống, nói nhỏ: đừng gỡ từ đầu, gỡ từ chân trước, rồi tới cánh, đầu sau cùng. Đừng kéo. Cắt.
Hạc đeo bao tay, cầm cây kéo nhỏ. Con đầu tiên là một con choắt chân đỏ. Sợi lưới mảnh hơn sợi tóc quấn ba vòng quanh cánh trái, hai vòng quanh cổ, cắt vào da tới rướm máu. Cô cắt từng sợi, từng sợi. Con chim nằm im trong tay cô, tim đập dồn dập dưới lòng bàn tay như một cái đồng hồ chạy nhanh. Khi sợi cuối cùng rời khỏi cổ nó, cô mở tay ra. Nó không bay ngay. Nó nằm đó một giây, hai giây, như không tin. Rồi nó vụt đi, mất vào bóng tối, một tiếng kêu ngắn vọng lại.
Con thứ hai cũng sống. Con thứ ba đã chết, cổ gập lại, cánh vẫn còn xoè ra trong tư thế giãy. Con thứ tư, một con rẽ giun nhỏ, sống nhưng cánh phải gãy.
– Con này thả không được. – Ông Chín nói.
– Con mang về. – Hạc nói, giọng khàn đi. Cô gói con chim vào túi vải, buộc hờ miệng túi, đeo trước ngực.
Lưới thứ hai có năm con. Ba sống, hai chết.
Giữa chừng, Hạc ngẩng lên nhìn về phía bờ. Cô không thấy Thoại, chỉ thấy cái bóng đen trên nền trời. Rồi cô thấy một chấm sáng trắng nhỏ, run run. Anh đã bật lại cây đèn pin, nhưng chĩa thẳng xuống đất dưới chân mình, lấy tay che bớt. Chấm sáng run như ngọn đèn trước gió. Nhưng đêm nay không có gió. Cô nhìn chấm sáng một lúc, và hiểu ra cái run không phải ở ánh đèn.
– Ông Chín. – Cô nói nhỏ. – Anh Thoại...
– Tui biết. – Ông Chín không ngẩng lên, tay vẫn cắt lưới. – Cô làm đi.
Gỡ xong lưới thứ hai, họ nhổ ba cây sào tre, cuộn hai tấm lưới lại bằng mấy cái túi ni lông, cột chặt. Tất cả: năm con chim được thả, ba con chết, một con gãy cánh. Hạc ghi vào sổ bằng ánh đèn đỏ, chữ xiêu vẹo. Cô ghi cả giờ, cả toạ độ, cả loài. Ba con chết cô cho vào túi riêng, ghi nhãn, để làm tang vật cho công an xã.
Lúc lội về, nước đã ròng thêm, chỉ còn tới mắt cá. Ông Chín đi trước, cô đi sau, đèn đỏ chiếu đường. Cách bờ chừng hai chục bước, Thoại bật đèn pin trắng lên, chĩa xuống mặt bùn ngay trước chân họ, soi đường. Vệt sáng trắng rộng, chói, lần này không run nữa.
Ông Chín dừng lại. Ông nhìn vệt sáng trắng. Rồi ông tắt cây đèn đỏ của mình, đi tiếp trong ánh đèn của Thoại.
Hạc bước lên bờ. Thoại đưa tay ra. Cô nắm lấy, và cảm thấy bàn tay anh ướt sũng mồ hôi, lạnh ngắt, dù đêm tháng Chín ở Phan Rang vẫn còn oi.
– Anh không sao chứ?
– Không sao.
Anh kéo cô lên. Lần này anh không buông tay ngay. Anh giữ tay cô thêm một hai giây, như người ta vịn vào lan can khi đứng trên cao. Rồi anh buông ra, quay sang đỡ cuộn lưới từ tay ông Chín. Hai người đàn ông chạm tay nhau qua cuộn lưới. Không ai nói gì.
Công an xã tới lúc chín giờ rưỡi. Hai người, một chiếc xe máy, một cái cặp đựng giấy tờ. Người lớn tuổi hơn đeo kính, hỏi rất kỹ, ghi biên bản dưới ánh đèn hiên nhà ông Chín. Ai phát hiện, lúc mấy giờ, ở đâu, bao nhiêu lưới, bao nhiêu chim, chim loài gì, sống bao nhiêu chết bao nhiêu. Hạc trả lời từng câu, đưa sổ thực địa cho anh ta chép số liệu, đưa ảnh chụp qua kính viễn vọng lúc năm giờ bốn mươi. Người công an trẻ hơn chụp ảnh tang vật, niêm phong hai cuộn lưới và túi chim chết.
– Mấy vụ này tụi tôi có nắm. – Người đeo kính nói. – Có mối thu mua chim từ mấy xã kế bên đưa lên thành phố. Có ảnh với địa điểm thế này thì dễ làm việc hơn. Cảm ơn cô.
– Còn con rẽ giun gãy cánh? – Hạc hỏi.
– Cô là người có chuyên môn. Cô giữ chăm, có biên bản ghi rõ. Khi nào nó khoẻ thì báo tụi tôi một tiếng rồi thả.
Họ đi rồi, sân nhà ông Chín lại tối. Con Mực nằm ngửa dưới gầm phản, ngủ say như chưa có chuyện gì. Thoại nói anh về nhà máy, mai có ca sáng. Anh gật đầu với ông Chín một cái, rất khẽ, cái gật đầu đầu tiên Hạc thấy anh dành cho ông. Rồi anh đi ra ngõ. Cô nhìn theo cái lưng áo ướt đẫm mồ hôi của anh cho tới khi nó lẫn vào bóng tối.
Hạc ôm cái túi vải trước ngực, trong đó con rẽ giun nhỏ khẽ cựa mình. Cô định về.
– Cô Hạc.
Ông Chín vẫn đứng ở hiên. Ông cầm cây đèn đỏ trong tay, bật lên, tắt đi, bật lên, tắt đi, như một thói quen cũ.
– Dạ.
– Cô thấy nó đứng trên bờ hả.
– Dạ.
– Nó không xuống đầm. – Ông nói. Giọng ông khàn, chậm, mỗi chữ như đá rơi xuống nước. – Hai mươi mốt năm nay nó không xuống. Vì ba nó.
Hạc đứng im. Ông Chín tắt đèn. Trong bóng tối, cô chỉ còn nghe được giọng ông.
– Ba nó chết dưới đầm này. – Ông nói. – Mà ba nó chết là tại tui.
— Hết chương 7 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe