Chương 27: Đêm năm hai nghìn lẻ bốn
Bà Rỡ là người đứng dậy trước. Bà đi ra cửa, ngồi xuống trước mặt bé Sương, gỡ bó hoa cúc khỏi tay con bé.
– Sương ơi, ra ngoài với bà Sáu. Ngoài kia có cây bàng, có con sáo. Ông nội với ba nói chuyện người lớn.
Con bé nhìn ba nó đang quỳ trên nền gạch, rồi để bà Rỡ dắt đi. Tới cửa, nó quay lại nói một câu, giọng trong veo: "Ba đừng khóc, ba ơi." Rồi cửa khép lại.
Bà Rỡ không đi xa. Thoại biết má đứng ngay ngoài cửa. Má đã nghe phần đầu. Má sẽ nghe phần còn lại.
Lợi vẫn quỳ. Anh không đứng dậy. Anh nói với cái nền gạch, với hai bàn tay đặt trên đùi, nói chậm, như leo từng bậc thang thép trong lòng tháp, mỗi bậc phải móc khoá chuyển.
Năm đó Lợi mười tuổi.
Nó nghe ba nó với chú Lành nói chuyện ở hiên từ chiều. Bão tới. Phải ra gỡ mẻ cuối. Người ta đòi chim. Nó không hiểu hết. Nó chỉ hiểu một điều: tối nay ba nó ra đầm, mà ba nó chưa bao giờ cho nó theo. Đứa nào trong xóm cũng có ba dẫn đi bắt chim một lần. Nó thì chưa.
Nó đợi ba nó với chú Lành đi khuất rồi lén theo. Không mang đèn. Trời chưa tối hẳn, còn thấy được bóng hai người đàn ông đi trước trên bờ ruộng muối, một người cầm cây đèn đỏ. Nó đi xa phía sau, chân đất, cúi người, như con cò rình cá.
Tới mép đầm, hai người lội xuống. Nó lội theo. Nước ròng còn tới đầu gối nó. Gió đã nổi, mặt đầm gợn lên những vằn đen. Nó đi theo ánh đèn đỏ, xa xa phía trước, chập chờn như ngọn lửa ma. Rồi ánh đèn rẽ sang trái. Nó không thấy rẽ. Nó đi thẳng.
Nó bước xuống một cái lạch.
Không phải bùn chắc như ba nó vẫn nói. Bùn ở đó mềm như cháo, sâu không có đáy. Nó lún tới đầu gối, tới đùi, tới bụng. Nó giãy. Càng giãy càng lún. Nước bắt đầu lên. Nó la. Nó la tên ba nó. Gió nuốt mất.
Rồi có người nghe.
Không phải ba nó. Chú Lành. Chú đang đi sau cùng, quay lại vì nghe tiếng gì đó giữa tiếng gió. Chú lội ngược lại, lội nhanh, nước bắn tung. Chú tới mép lạch, nằm sấp xuống bùn, chìa tay ra.
– Đừng giãy. – Chú Lành nói. – Rút chân ra. Từ từ. Đừng giãy.
Thoại ngồi trên cái ghế nhựa cạnh giường số chín. Anh nghe câu đó. Anh không động đậy. Nhưng tay anh, đặt trên đùi, nắm lại.
Đêm áp thấp tháng Mười Một, trên gò cát chảy, Hạc sụt chân tới đầu gối. Anh đã nói với cô đúng câu đó. Rút chân ra. Từ từ. Đừng giãy. Anh không biết mình học câu đó từ đâu. Anh tưởng mình tự nghĩ ra. Giờ anh biết. Hồi bảy tuổi, tám tuổi, theo ba ra mép đầm cột lưới, ba anh đã nói câu đó với anh không biết bao nhiêu lần.
Chú Lành kéo Lợi lên được. Mất rất lâu. Nước đã lên tới ngực Lợi. Khi nó lên được khỏi lạch, nó nằm trên bùn, thở không ra hơi. Chú Lành vẫn ở dưới lạch, nửa người chìm trong bùn mềm, vì chú đã trượt xuống trong lúc kéo.
Xa xa có ánh đèn đỏ. Ba nó đã quay lại, đang lội về phía tiếng la, đứng ở chỗ bùn chắc, giơ cao cây đèn.
– Thấy cái đèn đỏ không? – Chú Lành nói. Giọng chú đứt quãng vì lạnh, vì mệt.
– Dạ thấy.
– Đi theo cái đèn đỏ. Đi thẳng tới đó. – Chú đẩy lưng nó một cái, bằng hết sức. – Đừng nhìn lại. Nghe chưa? Đừng có nhìn lại.
Lợi đi. Nó bò, rồi lội, rồi chạy, hướng về ánh đèn đỏ. Nó không nhìn lại. Ba nó chụp được nó, ôm chặt, la gì đó vào tai nó mà nó không nghe ra. Rồi ba nó giơ đèn đỏ lên, rọi về phía cái lạch, gọi tên chú Lành. Gọi mãi. Gió nuốt hết.
Ba nó định lội lại. Nhưng ba nó đang ôm nó. Nước đã lên tới ngực ba nó. Ba nó đứng đó, một tay ôm nó, một tay giơ cây đèn đỏ, rọi về phía cái lạch suốt cả tiếng đồng hồ, cho tới khi nước buộc hai cha con phải lùi vào bờ.
– Em không nhìn lại. – Lợi nói với cái nền gạch. – Chú Lành nói đừng nhìn lại. Em không nhìn lại. Hai mươi hai năm em không nhìn ra cái đầm đó.
Ông Chín nằm trên giường, mắt nhắm, nước mắt chảy xuống hai bên thái dương, thấm vào gối.
– Sáng ra người ta hỏi. – Ông Chín nói, mắt vẫn nhắm. – Tui nói tui với ổng đi gỡ lưới, nước lên, tui về, ổng không về. Tui không nói có thằng Lợi. Nó mười tuổi. Nói ra thì cả đời nó mang. Nó lớn lên trong xóm này, đi ngang nhà bà Sáu mỗi ngày, gặp thằng Thoại mỗi ngày. – Ông thở ra. – Vợ tui biết. Vợ tui nói với bà Sáu "ổng hoảng ổng chạy", là để người ta khỏi hỏi thêm. Người ta ghét tui thì được. Tui chịu.
– Ổng không chạy. – Lợi nói. – Ổng đứng đó cả tiếng. Ổng giơ cái đèn đỏ tới mỏi tay. Em thấy.
Thoại nhớ hôm sửa mái nhà. Ông Chín cầm cây đèn đỏ đưa lên. Lợi quát. Ba cất cái đèn đó đi.
Anh nhớ đêm gỡ lưới. Ông Chín dừng lại trên mặt nước, nhìn lên chỗ anh đứng trên bờ, vệt đèn đỏ trong tay ông dừng lại rất lâu. Rồi lúc lội về, anh bật đèn trắng soi đường, và ông Chín tắt cây đèn đỏ của mình, đi trong ánh đèn của anh.
– Ba nó chết là tại tui. – Ông Chín nói, mắt mở ra, nhìn thẳng lên trần. – Tui nói câu đó với con nhỏ chim. Tui không nói với mày. Tại tui, vì tui là người lớn. Tui phải biết thằng con tui theo. Tui không biết. Tui mải đi gỡ mẻ chim cuối cho ba mày trả nợ.
Phòng im. Máy lạnh trong phòng hỏng, chỉ có cái quạt trần quay chậm. Ngoài cửa sổ, một con sáo kêu trên cây bàng.
– Cái lạch đó. – Lợi nói, vẫn nhìn xuống đất. – Ở góc tây, chỗ mấy cây đước, chỗ hồi tháng Chín ba em dẫn chị Hạc lội qua đi gỡ lưới. Đoạn đó cạn, bùn chắc. Mà đi thẳng xuống chừng chục bước là hết đáy. Người trong xóm kêu là lạch Ông Lành. Từ năm đó. Ai cũng biết. Không ai nói với anh, vì ai cũng nghĩ anh biết.
Thoại không biết. Hai mươi hai năm, anh không bước xuống đầm, nên không ai cần chỉ cho anh con lạch nào tên gì.
Anh tưởng Lợi nói xong rồi. Lợi vẫn quỳ.
– Còn một chuyện. – Lợi nói. – Chuyện này không phải chuyện của ba em. Chuyện của em.
Và Lợi kể tiếp, cũng bằng cái giọng leo từng bậc thang đó.
Anh Sang tới tìm Lợi hồi tháng Mười Hai, mấy hôm sau khi bé Sương được chẩn đoán. Uống cà phê ở căng tin. Anh Sang nói giai đoạn hai mà thành thì nhà máy tuyển thêm ba chục người, mười lăm người trong xóm giữ việc chắc chắn. Anh Sang nói chị Hạc khó tính quá, nếu chị Hạc đi thì giai đoạn hai dễ qua. Anh Sang không bảo Lợi làm gì cả. Chỉ nói: công ty có chương trình hỗ trợ nhân viên có con bệnh. Chỗ ở gần bệnh viện, xe đưa đón, tiền ăn.
Mấy tuần trước Tết, anh Sang đưa Lợi một cái máy ảnh có ống kính dài. "Mày cầm chơi. Thấy hai người đó có gì thì chụp. Công ty chỉ giữ, không dùng nếu không cần."
– Em tin. – Lợi nói. – Em tin giai đoạn hai là việc của cả xã. Em tin chị Hạc làm hư. Em tin tấm ảnh chỉ để giữ.
Đêm giao thừa, Lợi đi lên gò cát phía đông chòi số Một, nằm trên cát. Cả nhà máy biết chị Hạc trực đêm đó. Lợi đợi. Lúc tháp Bốn dừng, nghe giọng anh Tý trên bộ đàm Lợi mang theo, Lợi biết. Lợi chụp. Rồi tay run, bấm nhầm cái nút đèn trên điện thoại khi cất máy. Cái đèn loé lên. Lợi nằm úp xuống cát, thở không dám thở. Ánh đèn trắng của anh Thoại quét qua cách đầu Lợi hai mét. Rồi tắt. Lợi đợi thêm mấy giây, bò lùi qua bên kia gò, rồi chạy một mạch về xóm.
Mùng Một, Lợi gửi ảnh cho anh Sang. Mùng Hai, Lợi đi Sài Gòn, ở căn phòng có máy lạnh gần bệnh viện.
– Mùng Mười anh gọi em. – Lợi nói. – Anh hỏi em đêm giao thừa có thấy ai. Em nói em ở nhà. Rồi anh nói sau rằm anh với chị Hạc gửi thư khai.
Thoại không nói gì.
– Em nghĩ: vậy là xong rồi. Anh chị tự khai thì tấm ảnh không còn nghĩa gì. Em gọi anh Sang, em nói anh chị sắp tự khai, thôi bỏ tấm ảnh đi, đừng dùng. – Giọng Lợi vỡ ra. – Em tưởng em cứu được. Em nói ra là để ảnh bỏ.
– Rồi anh Sang nộp đơn trước. – Thoại nói. Giọng anh lạ, phẳng, như mặt đầm buổi sáng sau đêm bão.
– Ngày hai tháng Ba. – Lợi nói. – Em giết cái thư của anh chị. Em giết nó bằng chính cái miệng em.
Lợi ngẩng lên lần đầu tiên. Mắt đỏ, ướt, nhìn thẳng vào Thoại.
– Hai chục triệu anh cho em mượn. Em còn nguyên mười hai triệu. Em trả anh. Chỗ ở Sài Gòn, em trả công ty. Em đi lên tỉnh. Em khai hết. Anh muốn em làm gì em làm.
Thoại ngồi im.
Anh ngồi im rất lâu. Cái quạt trần quay. Con sáo trên cây bàng kêu thêm mấy tiếng rồi bay đi. Bé Sương cười gì đó ngoài hành lang, tiếng má anh dỗ dành. Ông Chín nằm nhắm mắt, ngực phập phồng. Lợi quỳ, không cúi đầu nữa, đợi.
Anh nghĩ tới ba anh. Ba anh nằm sấp trên bùn, chìa tay xuống một cái lạch không có đáy, kéo lên một đứa nhỏ không phải con mình. Đẩy lưng nó đi. Đừng nhìn lại. Anh đã ghét ông Chín hai mươi hai năm vì một câu nói của một người đàn bà đứng sau bàn thờ. Anh đã đứng ở mép đầm hai mươi hai năm vì một mặt nước phẳng quá.
Anh nghĩ tới Hạc. Cái chữ "độc lập" cô giữ như giữ cái nón giữa trời gió. Lá thư ba trang, hai chữ ký, lưu lúc hai mươi ba giờ lẻ bốn phút. Mười sáu ngày là chậm. Cô đã nhận.
Anh nghĩ tới bé Sương đứng ở cửa, ôm bó hoa cúc, nói "ba đừng khóc".
Rồi anh đứng dậy.
Anh không nhìn Lợi. Anh cúi xuống, đặt bàn tay lên bàn tay gầy như que củi của ông Chín, cái tay còn cắm kim truyền. Giữ ở đó một lúc. Ông Chín mở mắt.
– Cây đèn đỏ còn ở nhà ông? – Thoại hỏi.
Ông Chín nhìn anh rất lâu.
– Trên kệ. – Ông nói. – Cạnh tấm hình. Chìa khoá nhà dưới chậu kiểng.
Thoại gật đầu. Anh bước qua chỗ Lợi đang quỳ, không chạm vào Lợi, không nói câu nào. Anh mở cửa phòng. Má anh đứng ngay ngoài, lưng dựa tường, mặt ướt đẫm, tay vẫn nắm tay bé Sương. Má nhìn anh. Anh nhìn má. Không ai nói gì.
Anh đi dọc hành lang, xuống cầu thang, ra bãi giữ xe.
Anh không về nhà. Cả buổi chiều anh chạy xe dọc con đường ven biển, chạy tới tận mũi đá cuối tỉnh rồi quay lại, không dừng chỗ nào, điện thoại tắt trong túi áo ngực, cạnh tờ giấy kẻ hai cột.
Sáu giờ chiều, mặt trời lặn sau dãy núi đá phía tây, đồi cát đổi từ trắng sang hồng, rồi sang tím. Một chiếc xe máy dừng trước cái nhà mái tôn mới dưới cây me cuối xóm muối. Con Mực nằm trước hiên, ngẩng đầu, không sủa.
Thoại cúi xuống lấy chìa khoá dưới chậu kiểng, mở cửa, đi vào. Một lúc sau anh trở ra, tay cầm một cây đèn pin cũ, thân nhôm trầy xước, mặt kính bọc một lớp giấy kiếng màu đỏ quấn băng keo đen quanh mép.
Anh bật thử. Một vệt sáng đỏ mờ quét qua sân, như ánh than hồng.
Rồi anh đi ra phía đầm.
— Hết chương 27 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe