AI Truyện
Dừng tháp Bốn ở đầm Bến Cò

💞 Ngôn tình

Người leo tháp

Dừng tháp Bốn ở đầm Bến Cò · Chương 6/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 12 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 6: Người leo tháp

– Cô Hạc, cô đứng thẳng lên, giơ hai tay ngang vai giùm em.

Lâm Văn Lợi vòng ra sau lưng cô, kéo mấy sợi đai của bộ dây an toàn toàn thân, siết từng khoá một. Khoá ngực, khoá đùi trái, khoá đùi phải. Mỗi lần siết anh lại giật thử một cái, mạnh tới mức cô lảo đảo.

– Chật quá anh.

– Chật mới sống. Lỏng thì lỡ có trượt, cô tuột ra khỏi dây như con lươn tuột khỏi tay. – Lợi cười, hàm răng trắng lóa trên khuôn mặt cháy nắng. – Hồi em mới vô nghề, ông thầy dạy em câu đó. Em nhớ tới giờ.

Lợi là kỹ thuật viên leo tháp giỏi nhất nhà máy, Thoại nói vậy từ tối qua. Anh ba mươi mốt tuổi, người nhỏ, gầy, nhưng hai cánh tay toàn gân, bàn tay to bất thường so với thân hình. Anh nói nhiều, nói nhanh, nói gì cũng kèm một câu chuyện. Trong hai mươi phút kiểm đồ ở chân tháp Bốn, Hạc đã biết anh có một đứa con gái sáu tuổi tên Sương. Con bé vẽ tháp gió kín cả cuốn tập, mỗi cái tháp đều có một ông người que đứng trên nóc vẫy tay.

– Nó nói đó là ba nó. – Lợi kể, tay vẫn làm. – Mà em đâu có đứng trên nóc vẫy tay. Em chui trong nóc, mồ hôi như tắm.

Cô cũng biết thêm một chuyện nữa, mà Lợi nói ra như khoe: anh là con trai ông Chín. "Ba em về kể cô Hạc đi dò xác giỏi hơn con Mực," anh nói, cười hì hì. "Ba em ít khen ai lắm."

Hạc vừa học xong khoá an toàn làm việc trên cao hai ngày ở Phan Rang, thứ Hai và thứ Ba vừa rồi. Cô đã đeo dây, đã tập móc khoá chuyển dây, đã treo người lơ lửng trên một cái giàn sắt cao sáu mét trong sân trường dạy nghề, mặt mũi trắng bệch. Người hướng dẫn chấm cô đạt, nhưng ghi thêm một dòng: "Học viên nói nhiều khi sợ."

Linh thì không đi. Con bé nhìn lên đỉnh tháp đúng một lần, rồi ôm bộ đàm chạy về chòi số Một, nói em ở dưới này gọi cho chị nghe là được rồi.

Tháp Bốn hôm nay dừng theo lịch bảo dưỡng định kỳ, từ hai giờ chiều tới sáu giờ tối. Thoại đã sắp xếp như vậy. Cô muốn lên nóc tháp để đo độ cao bay của chim cho chuẩn, để so với những con số cô ước lượng bằng mắt từ trên chòi. Lên nóc một cái tháp đang chạy thì không ai cho phép. Dừng riêng một cái tháp chỉ để cô lên thì mất tiền. Ghép chuyện của cô vào một buổi bảo dưỡng có sẵn thì không ai mất gì.

– Sếp tính kỹ lắm. – Lợi nói, như đọc được ý cô. – Cái gì tốn tiền là ổng tính trước ba bước.

– Anh gọi anh Thoại là sếp?

– Ở nhà máy thì gọi sếp. Ở ngoài thì gọi anh Thoại. – Lợi kiểm lại khoá ngực của cô lần cuối. – Ổng kéo em về đây đó. Hồi đó em làm trong Sài Gòn, leo tháp viễn thông. Ổng gọi điện nói về đi, có việc gần nhà, có bảo hiểm, có ba với vợ con. Em về.

Thoại từ trong cửa tháp bước ra, mũ bảo hộ, dây an toàn, bao tay, một cái túi đồ đeo chéo.

– Xong chưa?

– Xong rồi sếp. Cô Hạc chắc như trụ điện.

Bên trong thân tháp mát và tối, vang như lòng một cái giếng khổng lồ. Thân tháp là một ống thép tròn, đường kính dưới chân rộng bằng một căn phòng, càng lên càng thu nhỏ. Một cái thang máy nhỏ, lồng sắt, vừa đủ cho hai người đứng, chạy dọc theo một đường ray. Cạnh nó là một cái thang leo bằng thép chạy thẳng lên, mất hút trong bóng tối.

– Thang máy lên gần tới nóc. – Thoại nói. – Đoạn cuối phải leo thang. Chừng mười mấy mét.

– Thang máy chạy mấy phút?

– Bảy, tám phút.

Hạc và Thoại đứng trong lồng thang. Lợi leo thang bộ, nói là quen rồi, đi thang máy chậm muốn chết. Lồng thang rung lên một cái rồi bắt đầu đi, chậm, kêu ù ù. Bóng đèn trên đầu chiếu xuống, rọi lên mấy con số sơn trắng trên thành tháp đánh dấu từng đoạn. Hai mươi mét. Ba mươi mét.

– Cô nói nhiều khi sợ. – Thoại nói.

Hạc quay sang nhìn anh.

– Sao anh biết?

– Người dạy khoá đó là bạn tôi. Ổng gửi biên bản đánh giá cho nhà máy, vì nhà máy là nơi cô sẽ leo.

– Vậy anh đọc hết rồi.

– Đọc hết. – Anh nhìn thẳng lên trên, nơi đường ray mất hút. – Giờ cô đang không nói gì.

– Giờ tôi đang sợ quá không nói được.

Anh không cười. Nhưng cô thấy khoé miệng anh động đậy.

– Bốn mươi mét. – Anh nói. – Tôi kể cô nghe chuyện cái tháp này. Thân tháp chia làm bốn khúc, chở bằng xe đầu kéo từ cảng về, mỗi khúc dài như một toa tàu. Hồi dựng, cần cẩu phải đợi gió lặng. Có tuần đợi năm ngày không được giờ nào. Cả đội ngồi dưới chân tháp đánh cờ tướng. Cái khúc cô đang đi ngang đây, dựng lúc hai giờ sáng, vì chỉ có lúc đó gió mới lặng.

– Anh kể để tôi bớt sợ?

– Tôi kể để cô nghĩ chuyện khác. Sáu mươi mét.

Lên tới nơi, đoạn thang leo cuối cùng làm Hạc ướt đẫm lưng áo. Mười mấy bậc thép, mỗi bậc phải móc khoá chuyển, tay run tới mức hai lần móc trượt. Thoại leo ngay dưới cô, không giục, không đỡ, chỉ đọc số bậc còn lại bằng giọng đều như đếm hàng. Lợi đã ở trên, thò tay xuống kéo cô qua miệng nắp.

Trong nóc tháp nóng và chật, đầy máy móc sơn trắng, mùi dầu nhớt, mùi kim loại. Lợi mở cái nắp trên mái. Ánh sáng ùa vào.

Hạc leo lên mái. Cô móc khoá vào thanh vịn, đứng thẳng dậy. Và quên mất mình đang sợ.

Từ đây, cô nhìn thấy cả thế giới của mình trong một cái liếc.

Đầm Bến Cò nằm dưới chân, nước đang lên, màu xanh ngọc, viền một đường bùn xám dọc bờ bắc. Từ trên cao, cô mới thấy hình dạng thật của nó: ba con lạch lớn chảy từ cửa biển vào, toả ra như ba ngón chân của một con chim khổng lồ in dấu xuống cát. Ruộng muối kẻ ô trắng bạc như vảy cá. Xóm muối với những mái ngói đỏ, mái tôn xanh. Rừng phi lao một vệt xanh thẫm. Đồi cát trắng nối đồi cát trắng, chạy dài tới chân dãy núi đá màu nâu tím phía tây. Và biển, biển trải ra tới tận chân trời, lóa nắng.

– Đẹp không? – Thoại hỏi. Anh đã lên đứng cạnh cô, khoá móc vào cùng một thanh vịn.

– Anh lên đây bao nhiêu lần rồi?

– Không đếm.

– Lần nào cũng thấy đẹp?

Thoại không trả lời ngay. Anh nhìn xuống xóm muối.

– Cái nhà ngói đỏ có sân phơi rộng, sát ruộng muối. Thấy không?

– Nhà cô Sáu.

– Hồi nhỏ, mùa gió, cát bay từ đồi xuống phủ ruộng muối nhà tôi, má tôi với tôi phải lấy chổi quét từng ô. Có năm quét không kịp, muối lẫn cát, bán không ai mua. Má tôi ngồi khóc giữa ruộng. – Anh nói đều đều, như đọc nhật ký vận hành. – Gió ở đây xưa giờ làm hại. Làm khô ruộng, làm hư nhà, làm cát lấp đường. Giờ người ta dựng mấy cái tháp này lên, gió ra tiền. Lần đầu tiên tôi thấy gió ở xứ này làm ra được thứ gì cho người ta.

– Và anh muốn có thêm tám cái.

– Tôi muốn mấy cái đang có chạy được mà không ai phải ngồi khóc. – Anh nói. – Má tôi không phải. Mà mấy con chim cô đếm cũng không phải.

Hạc nhìn anh. Gió thổi tung mấy sợi tóc lòi ra dưới mũ bảo hộ của cô. Cô chưa bao giờ nghĩ chim có thể ngồi khóc. Nhưng cô hiểu anh muốn nói gì.

Cô lấy máy đo khoảng cách bằng tia laser ra, đeo ống nhòm, ngồi xuống bệt trên mái thép nóng, bắt đầu làm việc. Mỗi lần có chim bay qua, cô đo khoảng cách, đo góc, ghi độ cao, rồi so với con số ước lượng bằng mắt từ trên chòi. Đàn diệc xám bay qua ở độ cao mà cô vẫn ước là một trăm hai mươi mét, máy đo ra chín mươi tám. Cô ghi lại, mặt nghiêm như ghi một lỗi chính tả trong luận văn của chính mình.

– Mắt tôi ước cao hơn thật khoảng hai mươi phần trăm. – Cô nói. – Vậy là những lần tôi nghĩ chim bay trên đầu cánh, có khi chim bay vào tầm cánh.

– Vậy cô gọi dừng thiếu chứ không phải thừa.

– Có thể.

Thoại nhìn cô một lúc.

– Cô nói ra điều đó với tôi, cô không sợ tôi dùng nó để cãi ngược lại sao?

– Số là số. – Cô nói, không ngẩng lên. – Anh nói câu đó trước.

Lợi đang làm việc ở trong nóc tháp, thỉnh thoảng thò đầu lên hỏi giờ hoặc xin nước. Hạc nhờ anh chỉ giùm tên mấy con lạch trong đầm, dân ở đây gọi thế nào, để cô ghi vào bản đồ cho đúng. Lợi ngẩng lên, nhìn về phía đông, phía biển, phía ruộng muối, nhìn đủ mọi phía trừ phía đầm.

– Em không rành đầm đâu cô. Em không ra đầm.

– Anh là con chú Chín mà. Chú Chín rành đầm nhất xóm.

– Ba em rành. – Lợi nói, rồi chui lại vào trong nóc tháp. – Em thì không.

Hạc nhìn theo. Cô thấy lạ, nhưng không nghĩ thêm. Người ở biển mà không ra biển, người ở đầm mà không ra đầm, cô đã gặp nhiều. Hôm nay đã là người thứ hai.

Gần năm giờ, nắng nghiêng, mọi thứ ửng vàng. Hai người ngồi trên mái nóc tháp, chân thõng vào miệng nắp, uống chung chai nước Hạc mang theo. Cô đưa chai nước cho anh trước khi kịp nghĩ. Anh cầm lấy, uống một ngụm, trả lại. Không ai nói gì về chuyện đó.

– Cái này là gì? – Thoại chỉ vào chùm chìa khoá móc ở thắt lưng cô. Giữa mấy cái chìa khoá có một cái vòng nhựa nhỏ màu xanh nõn chuối, to bằng đốt ngón tay, khắc hai ký tự màu đen, xỏ vào một sợi dây đỏ đã sờn.

– Cờ chân.

– Cờ chân?

– Người ta gắn lên chân chim để nhận ra từng con khi nó bay đi xa. – Cô tháo chùm chìa khoá ra, đưa anh coi. – Mỗi con một mã. Ai ở đâu thấy, chụp được ảnh, đọc được mã, gửi về là người ta biết con chim đó đi tới đâu.

– H8.

– Cái đó là cái dự phòng. Không ai gắn. – Cô ngừng một chút. – Cái H7 thì gắn rồi. Năm hai nghìn mười chín, tôi đi tình nguyện ở một trạm đeo vòng trên bãi bồi Cồn Ngạn ngoài Bắc. Tháng Mười Một, trời lạnh muốn rụng tay. Người ta bắt được một con rẽ mỏ thìa.

– Rẽ mỏ thìa?

– Một loài chim nhỏ bằng nắm tay, mỏ dẹt ở đầu như cái thìa ăn cơm. Cả thế giới còn chừng vài trăm cặp. – Cô giơ hai ngón tay lên, dùng đầu ngón tay làm thành hình cái thìa nhỏ. – Thầy tôi nói cả đời thầy đi bãi bồi mới thấy được ba lần. Hôm đó thầy để tôi gắn cờ. Tôi run tới mức gắn ba lần mới được. Con H7. Rồi thả nó ra. Nó bay một vòng trên đầu tôi, kêu một tiếng, rồi đi.

– Nó còn sống không?

– Năm hai mươi, có người thấy nó ở một bãi triều phương nam. Năm hai mốt, có người thấy nó trên đường bay lên phía bắc. Từ đó tới giờ không ai thấy nữa. – Cô cầm lại chùm chìa khoá, ngón cái xoa lên chữ H8. – Cái này thầy cho tôi giữ. Tôi đeo nó từ đó. Tôi nghĩ, chừng nào tôi còn đeo cái H8, thì chưa ai được nói là con H7 chết.

Thoại im lặng một lúc lâu.

– Chim nhỏ bằng nắm tay. – Anh nói. – Bay từ đâu tới đâu?

– Từ vùng lạnh tận cùng phía bắc, xuống tới đây, có con xuống tới vịnh Thái Lan, rồi quay về. Mỗi năm một vòng. Mấy nghìn cây số.

– Một mình?

– Có lúc theo đàn. Có lúc một mình.

Anh không hỏi gì thêm. Anh chỉ nhìn ra đầm, nơi bãi bùn bắt đầu lộ dần ra theo con nước chiều.

Năm giờ bốn mươi, ánh nắng đã đỏ rực, Hạc dọn đồ chuẩn bị xuống. Cô đưa kính viễn vọng lên lần cuối, quét một vòng mặt đầm để ghi lại số chim trước khi trời tối. Bờ bắc: choắt chân đỏ khoảng hai trăm, cò trắng ba mươi, cò ngàng mười một. Bờ đông: rẽ giun, choi choi. Rồi cô quét sang góc tây của đầm, chỗ mấy cây đước thưa thớt mọc xen giữa bùn và cát, chỗ xa nhất mà kính còn với tới.

Cô dừng lại.

Có một người đang đứng giữa mấy cây đước. Áo tối màu, nón lá. Người đó đang dựng một cây sào tre dài cắm xuống bùn, rồi cây thứ hai, cách nhau chừng hai chục bước. Giữa hai cây sào, có thứ gì đó mỏng như khói, đen như tóc, gió thổi qua thì gợn lên một chút rồi lại phẳng lì.

Hạc vặn nút chỉnh tiêu cự, tay run.

– Anh Thoại.

– Sao?

– Anh nhìn giùm tôi. Góc tây. Chỗ mấy cây đước.

Thoại cúi xuống ống kính. Anh nhìn lâu. Rất lâu. Khi anh ngẩng lên, mặt anh đã đổi màu, không phải vì nắng chiều.

– Lưới. – Anh nói.

Bên dưới, trong ánh chiều đỏ ối, người đàn ông giữa mấy cây đước đã dựng xong cây sào thứ ba. Tấm lưới thứ hai giăng ra, mỏng tới mức gần như vô hình, chắn ngang đúng con đường mà bầy choắt chân đỏ vẫn bay về mỗi tối.

— Hết chương 6 —

Mục lục Dừng tháp Bốn ở đầm Bến Cò

  1. 1Mười một lần dừng tháp Bốn12 phút đọc
  2. 2Ông già vác lưới11 phút đọc
  3. 3Mâm cơm tối thứ Bảy11 phút đọc
  4. 4Hai bộ số12 phút đọc
  5. 5Bốn mươi con chim cút11 phút đọc
  6. 6Người leo tháp12 phút đọc
  7. 7Lưới tàng hình10 phút đọc
  8. 8Trung thu trên đồi cát10 phút đọc
  9. 9Chữ ký ở trang cuối10 phút đọc
  10. 10Một ngày của Thoại11 phút đọc
  11. 11Mười bốn ngày và hai ngày11 phút đọc
  12. 12Đêm áp thấp ở chòi quan sát11 phút đọc
  13. 13Mái nhà ông Chín10 phút đọc
  14. 14Bảy triệu một giờ11 phút đọc
  15. 15Ghen10 phút đọc
  16. 16Hai mươi ba tháng Chạp10 phút đọc
  17. 17Giao thừa ở chòi số Một11 phút đọc
  18. 18Tấm ảnh12 phút đọc
  19. 19Ba cái tên trong một phong bì12 phút đọc
  20. 20Người thay thế11 phút đọc
  21. 21Nha Trang không có gió11 phút đọc
  22. 22Đơn xin thôi việc chưa nộp12 phút đọc
  23. 23Trà đá năm nghìn10 phút đọc
  24. 24Phiên hội đồng thứ nhất10 phút đọc
  25. 25Ghi chú cuối bảng số liệu10 phút đọc
  26. 26Giường số chín10 phút đọc
  27. 27Đêm năm hai nghìn lẻ bốn11 phút đọc
  28. 28Lạch Ông Lành10 phút đọc
  29. 29Lời khai của người leo tháp10 phút đọc
  30. 30Bản đồ mới11 phút đọc
  31. 31Cờ chân màu nõn chuối10 phút đọc
  32. 32Hai mươi bốn giờ trước phiên họp10 phút đọc
  33. 33Phiên hội đồng cuối10 phút đọc
  34. 34Một năm hợp đồng10 phút đọc
  35. 35Đếm giùm anh10 phút đọc
  36. 36Muối mùa mới10 phút đọc

Về truyện này

Dừng tháp Bốn ở đầm Bến Cò là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →