Chương 1: Tên trong lòng mặt nạ
Người cuối cùng đội chiếc mặt nạ ấy là má của Thoa, và má Thoa không qua được đêm diễn thứ bảy.
Mười sáu năm nay Thoa không nói câu đó ra miệng lần nào. Vậy mà chiều mùng Mười tháng Giêng, ngồi sau lưng ông xe ôm chạy dọc bờ sông Vàm Cỏ Tây, cô thấy câu ấy cứ tự lặp trong đầu, đều như tiếng bánh xe nghiến lên đường đal.
– Xóm Rạch Gáo thì tới rồi đó cô. Mà cô vô nhà ai?
– Nhà ông Năm Khương. Cái nhà có cột cờ.
Ông xe ôm ngoái lại nhìn cô một cái, rồi thôi không hỏi gì nữa. Đó là nhà Tổ của gánh hát bội Phước Xuân, gánh hát bội cuối cùng còn đi lưu diễn từ miền Trung xuống tới mũi đất phương Nam. Ai cũng biết, và ai cũng biết thêm một chuyện nữa mà không ai nói ra với người lạ.
Chưa tới cổng, Thoa đã nghe tiếng trống chiến. Tiếng trống dồn ba hồi, rồi kèn lên một câu cao vút, rồi chập chõa xé ngang. Cô bảo ông xe ôm dừng ở gốc gáo đầu ngõ, trả ba chục ngàn, đứng lại một chút cho tiếng trống đi hết vào người.
Cái sân đất nện vẫn y như hồi cô mười tuổi. Dưới giàn bông giấy, ông Sáu Kình ngồi trên cái đôn sành, hai dùi trống trong tay, miệng nhai trầu đỏ lòm. Giữa sân, thằng Tồ mặc áo thun ba lỗ, đầu buộc khăn, đang tập một đường thương, cây thương gỗ quay vù vù. Một con nhỏ chừng mười chín tuổi, tóc nhuộm hơi nâu, giơ điện thoại quay, vừa quay vừa nói nhỏ vào máy.
Không ai thấy Thoa. Chỉ có một người đàn ông ngồi xổm dưới gầm chiếc xe khách cũ đậu sát hàng rào là ngó ra. Một người lạ, tay dính dầu nhớt. Anh ta gật đầu chào cô như chào khách, rồi chui vô gầm xe lại.
Tiếng trống ngưng giữa chừng.
– Ủa. – Ông Sáu Kình nheo mắt. – Con nhỏ Thoa đó hả?
Cả sân quay lại. Cây thương của thằng Tồ rớt cái cạch. Con nhỏ cầm điện thoại há miệng, rồi lật đật chĩa máy về phía cô.
Từ trong nhà, một người đàn ông cao, tóc hoa râm cắt ngắn gọn gàng, bước ra hiên. Chú Ba Trọng. Chú già đi, nhưng cái dáng kép chánh thì không mất: lưng thẳng, vai mở, đi như có ai đang nhìn. Chú dừng ở bậc thềm, nhìn Thoa một lúc rất lâu, rồi cười. Cái cười hiền khô của chú hồi xưa.
– Con về rồi đó hả. Lớn quá. Chú nhìn không ra.
– Dạ, con chào chú Ba.
– Đờn nó nói con về, mà chú không tin.
Thoa chưa kịp trả lời thì nghe tiếng ho khục khặc sau vách. Một bóng người khòm khòm chống tay vô khung cửa. Ông ngoại cô. Ông Năm Khương, bầu gánh Phước Xuân, bảy mươi chín tuổi, mặc cái áo bà ba trắng đã ngả màu ngà, quần đen xắn ống. Ông gầy đi nhiều so với lần cuối cô gặp, hai năm trước.
Ông không bước ra. Ông đứng sau cánh cửa nhìn cô như nhìn một con chim lạ đậu nhầm nóc nhà.
– Con về làm chi?
– Con về thăm ngoại.
– Tết qua rồi. Thăm cái gì mùng Mười.
– Con về theo gánh, ngoại.
Ông Năm im. Thằng Tồ cúi xuống lượm cây thương, lượm hoài không lên. Ông Sáu Kình nhổ bã trầu vô cái lon sữa bò cạnh chân. Con nhỏ quay phim hạ máy xuống một chút.
– Thằng Đờn đâu? – Ông Năm hỏi, không quay đầu.
– Dạ, anh Đờn đi chở phông lên đình Phước Lý gửi trước, tối mới về. – Chú Ba Trọng đáp.
– Nó gọi mầy về phải không?
Thoa không chối.
– Anh Đờn nói năm nay gánh đi mùa chót. Bảy đình. Đình nào cũng xin hát lại Ngọc Nữ. Mà ngoại tính tự đội mặt nạ.
– Thì sao?
– Ngoại bảy mươi chín tuổi rồi.
– Hồi xưa kép hát vai đào hoài, có gì lạ. Ông thầy dạy ông hát vai đào tới sáu mươi.
– Ông thầy của ngoại đâu có bệnh tim.
Ông Năm đứng thêm một lúc. Rồi ông quay lưng đi vô trong, bỏ lại một câu nói không lớn không nhỏ, đủ cho cả sân nghe.
– Mai bắt xe về Sài Gòn. Nhà không có chỗ cho con ngủ.
Chú Ba Trọng nhìn theo ông, thở ra, rồi bước xuống thềm xách giùm Thoa cái ba lô.
– Kệ ông. Ông nói vậy chớ hồi Tết ông nhắc con hoài. Vô đây, chú dọn cái buồng sau cho.
Lúc chú cầm quai ba lô, Thoa thấy lòng bàn tay phải của chú có một đường sẹo ngang, trắng bệch, chạy từ gốc ngón trỏ xuống tận cườm tay. Cô không nhớ hồi xưa chú có vết sẹo đó.
– Tay chú sao vậy?
Chú Ba Trọng nhìn xuống bàn tay mình như mới thấy lần đầu, rồi nắm lại.
– Hồi đó chẻ tre làm giàn, dao trượt. Lâu rồi.
Bữa cơm tối dọn trên hai cái chiếu trải giữa nhà. Chị Hai Ngộ, vợ chú Út Bền, nấu một nồi cá lóc kho tộ với nồi canh bầu nấu tôm khô. Gánh còn mười người, kể luôn Thoa là mười một, ngồi chật hai chiếu. Người đàn ông sửa xe hồi chiều tên Sển, mới vô gánh hồi tháng Chạp, lái xe khách, kéo đờn cò. Anh ta ngồi cuối chiếu, ăn ít, gắp đồ ăn cho ông Sáu Kình, nói năng lễ phép.
Ông Năm không ra ăn. Bà Tám Liên bới một chén cơm, gắp miếng cá đầu khúc, đem vô buồng cho ông. Lúc đi ngang qua Thoa, bà dừng lại, đưa bàn tay khô như lá chuối xoa lên đầu cô một cái, không nói gì. Bà Tám là thợ phục trang, giữ rương đồ, giữ chìa khoá của gánh. Hồi Thoa còn nhỏ, chính bà Tám gỡ mặt nạ khỏi mặt má cô sau mỗi đêm diễn, lấy khăn ướt lau mồ hôi trên cổ má cô.
Con nhỏ quay phim hồi chiều tên Ngò. Nó ngồi sát bên Thoa, nói nhỏ:
– Chị Thoa ơi, em xin lỗi nha, hồi nãy em lỡ quay chị. Em làm cái chuỗi clip "Mùa cuối của gánh Phước Xuân" trên trang cá nhân. Lượt xem cũng khá. Chị cho em đăng không?
– Em đừng quay mặt chị.
– Dạ. – Ngò gật, rồi không nhịn được. – Mà chị về đội vai Ngọc Nữ thiệt hả chị?
Mấy đôi đũa trên chiếu khựng lại một nhịp. Chú Út Bền ho một tiếng. Ông Sáu Kình nhai trầu chậm lại.
– Chị chưa biết. – Thoa nói.
Sau bữa cơm, chú Ba Trọng mở cái cặp da, lấy ra một xấp thư đọc cho cả gánh nghe. Bảy lá thư mời của bảy ban quý tế bảy ngôi đình. Đình Vĩnh Phước dưới chân đèo, quê ông cố. Đình Lạch Bà trên đồi cát. Đình Tân Lộc giữa rừng cao su. Đình Phước Lý ngay trên sông Vàm Cỏ này. Đình Mỹ Lương miệt vườn sông Tiền. Đình Tân Thạnh giữa cù lao sông Hậu. Và cuối cùng là đình Mù U, nơi cửa biển tận cùng.
Lá nào cũng một ý, chữ khác nhau: nghe tin gánh Phước Xuân đi mùa chót, xin gánh hát lại tuồng Hoàn Hồn Ngọc Nữ một đêm, để con cháu trong làng được coi một lần cho biết. Lá thư của đình Mù U viết tay, chữ run run, ký tên một ông chánh bái tám mươi bảy tuổi. Lá đó có thêm một dòng: "Ngọc Nữ khởi đi từ đâu thì xin về ở đó."
Chú Ba Trọng gấp thư lại.
– Bảy đình, mỗi đình trả trọn gói từ bốn chục tới năm chục triệu, lo cơm nước chỗ ngủ. Cộng lại hơn ba trăm hai chục triệu. Mà gánh mình đang nợ ông Quan Bửu ba trăm triệu, hạn rằm tháng Ba. Ai cũng biết rồi. Đi trọn bảy đình thì trả xong nợ, chia nhau chút đỉnh rồi giải tán đàng hoàng. Đi không trọn thì hai cái rương đồ của gánh về tay ổng.
– Mà đình nào cũng đòi Ngọc Nữ. – Chị Hai Ngộ nói. – Không hát thì người ta rước gánh khác.
Thoa nhìn quanh. Mặt ai cũng nhìn xuống chiếu.
Không ai nói ra cái điều mà cả gánh đều biết. Tuồng Ngọc Nữ là tuồng tổ, ông cố Tảo soạn từ hồi khai gánh, và vai Ngọc Nữ là vai duy nhất của gánh Phước Xuân không vẽ mặt mà đội mặt nạ. Mùa nào hát Ngọc Nữ thì ở mỗi đình phải hát một đêm. Bảy đình, bảy đêm. Và người ta đồn, đã đồn sáu chục năm nay, rằng ai đội vai đó thì không qua được đêm diễn thứ bảy.
Đêm đó Thoa không ngủ được. Cái buồng sau chú Ba dọn cho cô có một cái giường tre, mùng mới mua còn mùi hồ, ngoài cửa sổ là con rạch nhỏ chảy ra sông. Nước ròng, bùn non lấp lánh dưới trăng mười. Ếch nhái kêu từng chặp.
Cô nằm nghĩ về má.
Mùa diễn năm Canh Dần, cô mười tuổi, được đi theo gánh vì má không có ai gửi. Cô nhớ mùi phấn má thoa lên cổ, những đêm ngủ dưới chân sân khấu nghe tiếng trống dội qua ván. Cô nhớ cái đêm cuối cùng, mưa lâm râm, má ngồi trước gương, quay lại vuốt tóc cô, nói nhỏ: "Đêm nay xong là má con mình về Sài Gòn." Cô nhớ mình ngủ trong cabin xe tải, nửa khuya nghe một tiếng gì đó ngân lên một lần, rồi im. Sáng ra, người lớn chạy ngược xuôi, không ai cho cô ra khỏi xe.
Người ta nói má té. Người ta nói má leo lên gác chuông đình làm gì không biết, ván mục, má té. Người ta còn nói một câu khác, nói nhỏ hơn, mà con nít mười tuổi nghe rõ hơn người lớn tưởng: "Đêm thứ bảy mà. Cô Ngọc Nữ bắt."
Gần mười một giờ, có tiếng gõ nhẹ lên vách ván.
– Thoa ngủ chưa con?
Là bà Tám Liên. Bà cầm cây đèn pin nhỏ, tay kia cầm một chùm chìa khoá đồng.
– Ông Năm ngủ rồi. Bà cho con coi cái này. Con muốn đội thì phải coi. Mà coi rồi, con tính lại.
Gian giữa nhà Tổ tối om, chỉ có hai ngọn đèn dầu trên bàn thờ Tổ nghiệp hắt ánh vàng lên bức hoành phi sơn son đã tróc. Dưới chân bàn thờ, hai cái rương gỗ đặt song song. Rương lớn sơn đỏ đựng mão áo. Rương nhỏ hơn sơn đen, góc bọc đồng, khoá bằng một ổ khoá đồng to bằng nắm tay.
Bà Tám thắp ba cây nhang, khấn lâm râm một hồi lâu, cắm lên lư hương. Rồi bà quỳ xuống mở khoá. Tay bà run, tra chìa hai lần mới trúng lỗ.
Nắp rương mở ra. Mùi long não, mùi vải cũ, mùi gỗ ẩm bốc lên. Bên trong lót một lớp vải điều đỏ. Trên lớp vải ấy, nằm ngửa, là chiếc mặt nạ.
Thoa nhớ nó lớn hơn. Trong trí nhớ của đứa nhỏ mười tuổi, nó to bằng cái mâm. Thật ra nó chỉ vừa một khuôn mặt đàn bà nhỏ nhắn. Gỗ mít, sơn ta màu trắng ngà. Hai hàng mày vẽ hình lá liễu, mảnh như sợi chỉ. Giữa hai mày một chấm son đỏ. Đôi môi hé ra, như người sắp cất tiếng mà còn ngập ngừng. Hai lỗ mắt khoét hình hạt đậu, đen thăm thẳm.
Và dưới khoé mắt trái, một vệt vàng chảy xuống, dài chừng một đốt ngón tay. Người trong gánh gọi đó là giọt lệ vàng.
– Hồi đầu nó đâu có giọt lệ đó. – Bà Tám nói nhỏ. – Sau cái đêm bà cố con mất, mặt nạ rớt xuống ván nứt một đường, ông cố con trám lại, thếp vàng lên. Từ đó tới giờ, đào nào đội cũng phải rờ vô giọt lệ trước khi đeo. Như xin phép cô.
Thoa không nói gì. Cô nhìn đôi môi hé mở. Có cảm giác nếu cô đứng đủ lâu, cái miệng gỗ ấy sẽ nói gì đó.
– Con lật mặt trong ra coi. – Bà Tám đưa cây đèn pin cho cô. – Bà không dám rờ. Từ năm Canh Dần tới giờ bà không dám nhìn mặt trong của nó.
Thoa đưa hai tay nâng chiếc mặt nạ lên. Nó nhẹ hơn cô tưởng, nhẹ như một cái nón lá. Cô lật lại.
Mặt trong để gỗ mộc, màu nâu sẫm, láng bóng vì mồ hôi của bao nhiêu người. Trên vùng gỗ phía trán, ai đó đã viết những hàng chữ nhỏ bằng mực tàu, mỗi người một dòng.
Bảy Ngọc – Nhâm Thìn. Ngay bên cạnh, thêm hai chữ: Đinh Dậu.
Ba Lài – Bính Ngọ.
Chín Lựu – Mậu Thìn.
Út Lệ – Canh Dần.
Thoa đưa ngón tay dò theo tên má. Chữ "Lệ" có cái nét móc hơi dài, giống chữ má viết trên mấy tấm thiệp sinh nhật cô còn giữ. Lại không giống lắm. Cô không chắc.
– Đó là lệ của gánh. – Bà Tám nói. – Ai đội lần đầu thì viết tên với năm vô. Để cô biết mặt.
Thoa định đặt chiếc mặt nạ xuống. Rồi tay cô dừng lại.
Dưới tên má, sát mép gỗ, còn một dòng nữa. Mực cùng màu, nét chữ cùng kiểu với những dòng bên trên. Không có năm. Chỉ có hai chữ.
Kiều Thoa.
Cô nghe như có ai thổi một hơi lạnh vào gáy. Ngoài sân, con chó nhà bên sủa lên một tiếng rồi im. Hai ngọn đèn dầu trên bàn thờ cùng lúc chao đi, rồi đứng lại.
– Bà Tám. – Thoa nói, giọng cô khô khốc. – Ai viết tên con vô đây?
Bà Tám Liên cúi nhìn theo ngón tay cô. Bà nhìn lâu lắm. Rồi bà đưa tay bụm miệng, ngồi bệt xuống nền gạch, cây đèn pin trên tay Thoa rọi thẳng vào gương mặt bà, trắng như vôi.
– Năm đó chính tay bà cất nó vô rương. – Bà nói, từng chữ lọt qua kẽ ngón tay. – Bà nhớ mà, con. Hồi đó đâu có chữ này.
— Hết chương 1 —
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe