Chương 19: Lời kể của người chết đuối
Thoa không rút tay ra. Bàn tay sần sùi kia đè lên tay cô, lạnh, nặng, như một cái nắp hũ đậy lên miệng hũ.
– Bà nói lại đi bà. – Cô nghe giọng mình khô khốc. – Bà đứng ở đâu?
– Ở bến. – Bà Mười Gừng nói. – Mà để tui kể từ đầu. Kể từ khúc giữa thì con nghe không ra đâu.
Bà Hai bán nước đã quay vô chòi từ lúc nào, đặt ấm trà mới lên bàn, rót hai ly, rồi lại lặng lẽ đi ra sau. Bà già này chắc đã nghe nhiều chuyện ở cái bến đò này, đủ để biết lúc nào thì phải đi chỗ khác.
Bà Mười cầm ly trà, không uống, chỉ để cho hơi nóng bốc lên mặt.
– Cái thằng cha lò gạch đó tên Ba Phó. – Bà nói. – Năm mươi tuổi, vợ chết, răng vàng một cái, đi đâu cũng có thằng cầm dù che. Ông Sáu kể con nghe rồi chớ gì. Ông bầu Tảo gật đầu gả tui cho ổng. Ổng xoá nợ cho gánh. Gánh sống. Tui thì chết.
– Bà không trốn được sao bà?
– Trốn đi đâu, con? Tui mồ côi, ở gánh từ năm mười hai tuổi. Gánh là nhà. Trốn khỏi gánh thì người ta nói tui phụ ơn ông bầu, ông Ba Phó đòi nợ, cả gánh lãnh. Mà ở lại thì tui thành bà chủ lò gạch, ngồi đếm gạch. – Bà cười một tiếng khan. – Tui chọn chết.
Đêm thứ sáu ở đình Tân Thạnh, bà hát xong, tẩy phấn, choàng cái khăn voan trắng của áo Ngọc Nữ lên đầu, nói với cả gánh là qua bờ bên kia thăm bà dì. Bà chèo xuồng ra giữa sông. Nước ròng, chảy mạnh. Ở đầu doi cuối cù lao có một chiếc ghe chài tắt đèn đợi sẵn.
– Có người sắp chiếc ghe đó cho tui. – Bà nói. – Tui hứa với người ta không nói tên. Tới chết tui cũng không nói. Con đừng hỏi.
Bà leo lên ghe, lấy chân đạp lật chiếc xuồng, để nó trôi. Rồi bà nằm dưới khoang ghe chài, giữa mấy bao lúa, nghe tiếng người ta gọi tên mình dọc bờ sông suốt ba ngày.
– Tui nghe tiếng ông Sáu. – Bà nói, giọng chùng xuống. – Đêm thứ hai, ổng kêu ngay sát mạn ghe. Kêu "Lựu ơi" khàn như con vịt đực. Tui nằm cắn vô cổ tay cho khỏi trả lời. Cái dấu răng một tuần mới mất.
Chiếc ghe chở bà xuống xóm cuối cù lao, một xóm nghèo nằm sau rặng bần, nhà cách nhà một con mương. Có một bà già bán bánh lá mít goá chồng không con cho bà ở nhờ. Người trong xóm hỏi bà tên gì, thứ mấy. Bà nói bà thứ Mười.
– Thứ Chín chết rồi thì tui làm thứ Mười. – Bà nói. – Cho nó dễ nhớ.
Hai tháng sau bà biết mình có bầu.
Thoa nhìn bà. Bà nhìn ra sông. Sương đã tan gần hết. Mặt nước loang loáng màu đồng.
– Tui sinh nó tháng Chín năm đó. Trong cái chòi của bà già bán bánh. Bà mụ trong xóm đỡ. Nó nhỏ xíu, đen thui, mà tiếng khóc thì lớn. Khóc ré lên, rồi kéo dài ra, rồi rung rung ở cuối. Bà mụ nói con nít gì khóc như kéo đờn.
Sau khi sinh, bà sốt. Sốt cả tháng, không có sữa. Bà già bán bánh nấu nước cơm cho thằng nhỏ uống. Bà đi làm phụ bếp cho một quán đám giỗ đám cưới trong xóm, đi làm thì bồng con theo, đặt nó trong cái thúng dưới chân bếp. Cái nồi nước sôi đổ xuống ở đó.
– Tháng Chạp, nó bệnh. Ho, khò khè, ốm nhom. Tui bồng nó lên trạm xá, người ta nói nó thiếu ăn. – Bà Mười ngừng lại. – Tui nhìn nó. Tui nhìn tui. Tui biết tui nuôi nó không nổi.
Chiều ba mươi Tết năm Kỷ Tỵ, bà bồng con đi đò qua sông, đón xe đò lên Rạch Gáo. Bà biết đêm giao thừa nào ông Sáu Kình cũng cúng ngoài sân nhà Tổ. Từ hồi bà còn ở gánh, năm nào ông cũng làm, năm nào cũng đứng thắp nhang ở cột cờ rồi đi một vòng ra cổng ngó đường.
Bà quấn thằng nhỏ trong cái khăn voan. Bà đặt nó ở cổng, trên cái bậc gạch, sát gốc dâm bụt. Rồi bà núp sau gốc gáo đầu ngõ.
– Nó khóc. Tui đứng sau gốc gáo, tui cắn vô tay lần nữa. – Bà giơ cổ tay phải lên cho Thoa coi, như vết răng năm đó vẫn còn. – Rồi ông Sáu đi ra. Ổng cúi xuống. Ổng bồng nó lên. Ổng đứng giữa cổng, ổng ngó dáo dác ra đường. Ổng ngó ngay chỗ gốc gáo. Tui tưởng ổng thấy tui.
– Ổng không thấy?
– Ổng không thấy. Ổng ôm nó vô nhà. – Bà Mười đặt ly trà xuống. – Tui đi bộ ra lộ, đứng tới sáng mùng Một mới có xe về. Năm đó cả xứ đốt pháo, tui đứng ngoài lộ nghe pháo nổ, tui tưởng tui điếc luôn.
Thoa không nói được gì. Cô ngồi đó, ly trà trong tay đã nguội.
– Còn lọn tóc?
– Năm sau nữa. – Bà nói. – Tui không chịu nổi. Tui cắt một lọn tóc, cột chỉ đỏ, bỏ phong bì gửi cho ổng. Không ghi tên, không ghi chỗ. Tui nghĩ ổng coi dấu bưu điện là biết. Ổng biết thì ổng tới. Ổng tới thì tui nói hết.
– Ổng không tới.
– Tui đợi một năm. Năm sau tui đợi thêm một năm. Rồi tui thôi đợi. – Bà nhún vai, cái nhún vai của người đã quen với chuyện không có ai tới. – Tui nghĩ ổng có vợ rồi. Hay ổng giận. Mà giận cũng phải.
Ngoài sông, một chiếc ghe chở dừa chạy ngang, sóng vỗ vào chân chòi lốp bốp. Bà Mười đợi cho tiếng sóng lặng.
– Năm Canh Dần, nghe trên cù lao đồn gánh Phước Xuân về đình Tân Thạnh hát Ngọc Nữ. Đêm thứ bảy. – Bà nói. – Hai mươi mấy năm gánh không hát Ngọc Nữ. Tui biết đào là con Út Lệ. Hồi tui đi, con Lệ mới mười hai tuổi, đứng sau cánh gà coi tui hát, mắt tròn vo. Tui đi coi.
Đêm đó trời mưa lâm râm từ chập tối. Bà đứng ở cuối sân đình, dưới mái hiên một cái chòi bán nước, đội nón, không ai để ý một bà già. Con Lệ hát hay. Hát chữ "về" thẳng một đường, không luyến, không lấy hơi lại, dứt như người ta đóng cửa.
– Tui coi con Lệ mà tui coi thằng Đờn nhiều hơn. – Bà nói. – Nó kéo màn, nó đứng ở cánh gà. Tui nhận ra nó liền. Cái lưng nó. Cái cách nó đứng chàng hảng, hai tay chống nạnh. Y chang ông Sáu hồi trẻ.
Hát xong, gánh dọn đồ. Mấy người đàn ông trong gánh rủ nhau ra bến uống rượu. Bà đi theo, đứng xa. Ngoài bến có cái quán nước của người ta đã đóng cửa, mấy người ngồi chồm hổm dưới mái hiên quán, giữa mưa, uống đế với khô mực. Thằng Đờn ngồi trong đó.
– Nó mặc cái áo mưa màu cam. – Bà nói. – Tui nhớ rõ lắm. Cái màu đó trong đêm mưa, ngọn đèn ở bến rọi vô, nó sáng như trái thị.
Bà Mười ra ngồi dưới mái chòi giữ ghe ở đầu doi, cách bến chừng năm chục thước. Từ đó bà thấy được mái hiên quán, thấy được cái áo cam. Bà ngồi coi con mình uống rượu, cười, la, giành nhau ly. Gần nửa đêm, thằng Đờn say trước, bỏ đám nhậu đi xiêu xiêu ra phía mấy chiếc ghe đậu sát bến. Bà thấy nó leo xuống một chiếc.
– Rồi tui ngủ gục. – Bà nói. – Tui đi bộ từ xóm dưới lên, đứng coi hát cả buổi, tui mệt. Tui ngồi dựa cột chòi, tui ngủ lúc nào không hay.
Bà ngừng lại. Bà nhìn xuống bàn tay có vết sẹo bỏng.
– Tui giật mình thức vì một tiếng chuông.
Thoa nghe tim mình đập một cái thật mạnh, như có ai gõ từ bên trong.
– Một tiếng. – Cô nói.
– Một tiếng. – Bà Mười gật đầu. – Boong. Rồi thôi. Tui ngồi chờ tiếng thứ hai. Không có.
Rồi bà thấy một người từ phía đình chạy xuống. Từ phía cái gác chuông, cái gác chuông bằng gỗ đứng ở góc sân đình gần mé sông. Người đó chạy ngang qua chỗ ngọn đèn ở bến, đúng chỗ cái quán nước. Mặc áo mưa màu cam. Ôm một cái gói gì trước ngực. Tay trái ôm lấy tay phải, ôm chặt, như người bị đứt tay. Chạy cúi đầu, chạy về phía bãi đậu xe của gánh.
– Tui thấy cái áo cam. – Bà nói. – Tui thấy cái áo cam là tui tưởng…
Bà không nói hết.
– Bà tưởng là anh Đờn. – Thoa nói thay.
Bà Mười nhắm mắt lại.
– Sáng ra, người ta la ầm lên. Con Lệ nằm dưới chân gác chuông. Tui đứng ở cuối đám đông. Tui thấy ông Năm quỳ trong mưa. Tui thấy thằng Đờn chạy lên từ dưới bến, mình mẩy ướt nhẹp, mặt trắng như vôi. Tui thấy nó đứng sững ở đó. – Bà mở mắt ra. – Tui không dám coi nữa. Tui đi về xóm. Tui đi bộ, tui đi như người ta đi trốn.
– Bà không nói với ai.
– Nói cái gì, con? Nói tui là Chín Lựu chết đuối, tui đội mồ sống dậy, tui thấy thằng con tui chạy từ gác chuông xuống đêm cô đào té? – Bà lắc đầu. – Tui bỏ nó một lần rồi. Tui không lẽ đi tố nó nữa.
– Bà có thấy mặt người đó không?
– Không. Mưa. Trùm mũ áo mưa. Cúi đầu. – Bà ngừng một chút. – Cao. Mà thằng Đờn cũng cao. Đàn ông trong gánh ai mà không cao.
Thoa ngồi im. Trong đầu cô, những mảnh rời rạc đang tự xếp vào chỗ của chúng, không cần cô xếp. Cái áo mưa màu cam. Cái băng ghế chót xe khách, ông Sáu nói. Thằng Đờn say quắc cần câu, ngủ dưới khoang ghe, sáng ra mình mẩy ướt nhẹp.
Ướt nhẹp.
– Mười sáu năm nay bà nghĩ vậy. – Cô nói.
– Mười sáu năm nay tui nghĩ vậy. – Bà Mười nói. – Năm nay nghe gánh đi mùa chót, tui nói với mình, tui già rồi, tui phải coi nó thêm một lần. Tui phải biết. Mà lên tới nơi, tui đứng dưới cây đèn đường đầu xóm, thấy nó lái xe tải chạy qua, tui hết dám biết.
Bà kể nốt, giọng đều hơn, như người ta đã qua được khúc sông xoáy, giờ chỉ còn bơi vô bờ. Bà đi theo gánh bằng xe khách, ngủ nhà trọ, ngủ chòi, ngủ dưới mấy chiếc thuyền thúng úp trên bãi. Bà gánh chè theo để có cớ đứng gần. Đêm đầu Ngọc Nữ ở Vĩnh Phước, bà ngồi chồm hổm ngay sau cái trống chầu, sau lưng một bầy con nít.
– Tui không có định hát. – Bà nói. – Mà con hát tới câu ra, cái miệng tui tự nó ngân theo. Ba mươi tám năm nó nhịn, tới đó nó không nhịn nữa.
– Chén chè. Dấu chân.
– Tui. Sáng sớm tui lội dưới mé nước lên, tui để chén chè, rồi đi ra theo lối gạch. Cái lệ đó tui đặt ra mà, con. Cô Ngọc Nữ chết dưới nước. Cô lạnh.
– Đêm ở Phước Lý, ngoài sông?
– Tui mượn xuồng của ông già giữ đáy. Tui ra giữa sông tui hát. – Bà ngừng một chút. – Tui hát cho ông Sáu nghe. Tui biết ổng ngồi ở bến.
– Còn dấu tay đứa nhỏ trên gương ở Lạch Bà?
Bà Mười nhíu mày.
– Gương nào?
Thoa kể. Bà nghe, rồi lắc đầu, chậm rãi, chắc chắn.
– Ở Lạch Bà tui có để một chén chè. Có vậy thôi. Tui đâu có dám vô chỗ buồng hát của gánh. Tui vô đó, bà Tám thấy tui, bả nhận ra tui liền. Bả không nhận ra cái mặt, bả nhận ra cái dáng.
Thoa không hỏi nữa. Cô nhìn bàn tay mình, nhớ lại cái dấu tay trắng ở góc gương, ngang tầm một đứa nhỏ mười tuổi đứng dưới đất.
Ngoài kia mặt trời đã lên khỏi rặng tràm. Bến đò bắt đầu đông. Mấy bà bán rau từ bên kia sông qua, gánh gồng lỉnh kỉnh. Một đứa nhỏ đạp xe đạp chở bánh mì ngang qua, rao lanh lảnh.
– Bà Mười. – Thoa nói. – Đêm đó anh Đờn ngủ dưới khoang ghe. Sáng ra anh ướt hết. Áo mưa của ảnh người ta kiếm được dưới băng ghế chót xe khách. Ảnh ngủ dưới khoang ghe mà ướt hết, thì lúc ảnh ngủ, ảnh đâu có mặc áo mưa.
Bà Mười nhìn cô. Cái nhìn đó đứng yên rất lâu.
– Con nói cái gì?
– Con nói người bà thấy chạy từ gác chuông xuống, mặc áo mưa của anh Đờn. – Thoa nói, từng chữ. – Mà chưa chắc là anh Đờn.
Bàn tay bà Mười trên bàn run lên. Cái ly trà nghiêng đi, nước tràn ra mặt bàn, chảy thành một vệt dài, nhỏ xuống nền đất.
Đúng lúc đó, sau vách lá phía sau lưng bà, có một tiếng động. Không lớn. Như tiếng một người đàn ông to con đứng quá lâu một chỗ, khẽ dời chân, giẫm lên một cọng dừa khô.
Thoa đứng bật dậy, bước ra cửa chòi, vòng ra sau.
Đờn đứng đó, áp lưng vô vách lá, hai tay buông thõng, đôi dép tổ ong dính bùn bến đò. Trên vai anh vắt cái khăn voan trắng viền chỉ bạc, chắc anh đã chụp lấy nó khi thức dậy không thấy Thoa đâu. Anh không nhìn cô. Anh nhìn xuống đất, nơi một con cua đồng nhỏ đang bò ngang qua mũi dép.
– Anh nghe hết rồi. – Anh nói. Giọng anh không có hơi. – Từ khúc cái gốc gáo.
— Hết chương 19 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe