Chương 31: Đường xuống rừng đước
Con đường đal cuối cùng chỉ rộng vừa một chiếc xe tải, hai bên là rừng đước, và rừng đước thì không có chỗ nào cho người ta quay đầu.
Gánh Phước Xuân rời cù lao Tân Thạnh từ bốn giờ sáng mười lăm tháng Hai, đi chuyến phà đầu tiên. Ông Bảy Lũy ra bến tiễn, cầm một cây đèn bão, đứng đó cho tới khi phà ra giữa sông mới quay về. Bà Mười Gừng ngồi trên xe khách, băng thứ tư, cạnh ông Sáu Kình. Đôi quang gánh của bà nằm trong thùng xe tải, giữa hai cái rương. Cái chòi sau rặng bần bà đã khoá lại, gửi chìa cho nhà hàng xóm.
– Tui đi coi hết đêm thứ bảy. – Bà nói với Thoa lúc lên xe. – Ba mươi tám năm trước tui không tới được. Lần này tui tới.
Đường xuống mũi đất phương Nam dài gần trọn một ngày. Hết sông Hậu là kênh. Hết kênh này là kênh khác. Đường lộ chạy dọc theo những con kênh thẳng băng, nước màu nâu đỏ, hai bên là những vuông tôm mênh mông. Mặt nước phẳng lặng phản chiếu bầu trời, thỉnh thoảng có một cái chòi canh vuông tôm cất trên cọc, một cái máy quạt nước quay xè xè. Rồi ruộng lúa thưa dần. Rồi cây bần, cây mắm mọc dày dần. Rồi mùi đất đổi thành mùi bùn, mùi muối.
Út Bền lái xe khách chậm, cẩn thận, hai tay nắm chặt vô lăng, thỉnh thoảng lại lau mồ hôi. Chú Ba Trọng ngồi băng ghế đầu bên phải, chỉ đường. Chú thuộc đường. Mười mấy năm chú đi lo hợp đồng đình Mù U, năm nào cũng xuống. Chú không nói gì ngoài mấy câu chỉ đường. "Tới ngã ba quẹo trái." "Qua cầu sắt thì chạy chậm, cầu yếu." "Tới chợ thì đậu."
Ông Năm ngồi băng thứ hai. Ông ngủ gần như suốt chặng đường đầu. Tới trưa thì ông thức, nhìn ra cửa sổ, không ngủ lại nữa.
Trưa, gánh ghé ăn cơm ở một cái quán ven kênh. Cá kèo kho tộ, canh chua cá bông lau, đĩa ba khía trộn chua ngọt. Thằng Tồ ăn ba chén. Ngò chụp hình món ba khía, rồi không đăng, cất điện thoại vô túi. Từ hôm ở Tân Lộc, con nhỏ ít đăng hẳn.
Thụ đứng ngoài hiên quán, nhìn trời.
– Cô coi. – Anh nói khi Thoa ra đứng cạnh.
Phía nam, nơi con kênh chạy thẳng về phía chân trời, có một dải mây xám đen nằm sát mặt đất. Nó không giống mây mưa bình thường. Nó dày, đặc, phẳng ở dưới đáy như ai lấy dao cắt ngang, phía trên thì cuồn cuộn, trắng xoá ở đỉnh. Nắng trên đầu họ vẫn chói chang, gắt tới rát da. Mà gió đã bắt đầu đổi. Mấy tàu lá dừa nước ven kênh lật ngửa lên, lộ ra mặt dưới màu bạc.
– Chừng ba bốn tiếng nữa tới mình. – Thụ nói.
– Mình còn mấy tiếng đường?
– Ba tiếng.
Ông Năm cũng đã ra hiên, chống gậy đứng nhìn dải mây. Ông không nói gì. Ông nhìn nó như nhìn một người quen cũ.
Gánh lên đường liền.
Tới chợ cuối cùng thì xe khách không đi được nữa. Từ chợ vô đình Mù U còn mười mấy cây số đường đal, xuyên qua rừng đước, chỉ xe tải nhỏ và xe máy chạy được. Chú Ba Trọng đã hẹn trước với ban quý tế. Mấy chiếc xe máy chở người, một chiếc xe ba gác máy chở đồ nhẹ. Đờn lái xe tải chở phông, rương, máy phát. Ông Năm đòi ngồi xe tải. Thoa ngồi giữa, như cái hôm đi từ Tân Lộc về.
Con đường đal chạy giữa rừng đước như một sợi chỉ xám chạy giữa tấm vải xanh thẫm. Đước cao, thân thẳng, rễ chống chĩa xuống bùn như ngàn cái chân nhện khổng lồ đang đứng. Ánh sáng lọt qua tán lá xanh rì, tối dần. Mùi bùn, mùi lá mục, mùi muối nồng nặc. Thỉnh thoảng có một con rạch nhỏ cắt ngang đường, nước đen ngòm, trên mặt nước nổi lên mấy cái mũi cá thòi lòi.
Khi xe tải vô sâu chừng nửa đường thì trời tối sầm.
Không phải chạng vạng. Mới bốn giờ chiều. Nhưng dải mây xám đen đã kéo tới đầu họ, nuốt mất mặt trời, nuốt mất màu xanh của rừng đước. Mọi thứ chuyển sang một màu xám chì. Gió dừng hẳn. Rừng đước im phăng phắc, không một tiếng chim, không một tiếng lá. Chỉ còn tiếng máy xe tải nổ ì ì và tiếng bánh xe nghiến trên mặt đal.
– Chạy nhanh lên Đờn. – Ông Năm nói.
Đờn nhấn ga.
Gió tới.
Nó tới cùng một lúc, không báo trước, như có ai mở toang một cánh cửa khổng lồ ở cuối con đường. Cả rừng đước ngả rạp về một phía. Lá đước bay lả tả, đập vô kính chắn gió như bầy chim. Một cành cây gãy văng ngang mũi xe. Đờn đạp thắng, chiếc xe tải chồm lên, rồi chạy tiếp.
Rồi mưa. Mưa không rơi xuống. Mưa bay ngang. Nó quất vô thành xe rào rào như ai hắt sỏi. Cái gạt nước chạy hết cỡ mà Đờn vẫn không thấy đường. Anh thò đầu ra cửa sổ, mưa tát vô mặt, nhìn mép đal mà lái.
Thoa ngồi giữa, hai tay bám chặt vô cái ghế. Bên cạnh cô, ông Năm ngồi yên, hai tay đặt trên cây gậy. Mặt ông không sợ. Mặt ông tĩnh lặng lạ lùng, như mặt người đang nghe một bản nhạc mình đã thuộc từ lâu.
– Năm năm mươi bảy, – ông nói, giọng không lớn mà Thoa nghe rõ giữa tiếng gió, – gánh đi xuồng vô. Hồi đó chưa có con đường này. Đi xuồng ba tiếng. Ông ngồi mũi xuồng, ôm cái hộp ấn. Má ông ngồi sau lưng ông, che cái nón lá lên đầu ông. Không có giông. Giông tới sau.
Một tia chớp rạch ngang bầu trời, trắng loá, soi rõ từng thân đước, từng cái rễ chống chĩa xuống bùn. Rồi sấm nổ, ngay trên đầu, rung cả cabin xe.
Đờn la lên một tiếng. Phía trước, một cây đước lớn ngã ngang con đường.
Chiếc xe tải dừng lại cách thân cây chừng mấy thước. Đờn ngồi thở hổn hển, hai tay run trên vô lăng. Mưa quất rào rào. Không lùi được. Không tới được. Rừng đước hai bên không có chỗ nào để quay đầu.
Rồi phía bên kia thân cây ngã, giữa màn mưa trắng xoá, có ánh đèn. Một ngọn. Hai ngọn. Năm ngọn. Đèn bão, đèn pin, lắc lư, tiến lại gần. Mấy người đàn ông mặc áo mưa, đội nón lá, cầm dao, cầm cưa, chạy tới. Họ không nói nhiều. Họ cưa, họ chặt, họ hè nhau khiêng từng khúc đước lăn xuống con rạch bên đường. Mười lăm phút sau, con đường thông.
Một người đàn ông trẻ chạy tới cửa xe tải, đội nón lá, mặt ướt nhẹp.
– Gánh Phước Xuân phải không chú? – Anh ta la to giữa tiếng gió. – Ông Hai biểu tụi con ra đón. Ông nói ông đợi gánh sáu mươi chín năm rồi, không để giông giữ gánh ngoài rừng.
Gánh tới đình Mù U khi trời đã tối hẳn.
Đình nằm trên một gò đất cao giữa rừng đước, nhìn ra cửa biển. Mà gọi là cửa biển thì cũng chỉ thấy một khoảng đen ngòm mênh mông, sóng trắng xoá đập vô bờ trong ánh chớp. Quanh đình là mấy cây mù u cổ thụ, thân sần sùi, cành vươn dài ra, lá to, dày, bóng. Gió quất qua tán mù u nghe như tiếng ai đánh trống chiến.
Đình bằng gỗ. Cột gỗ, vách ván, mái ngói đã rêu phong. Nhà võ ca nằm bên trái, mái tôn mới, mấy người trong làng đã cột dây kéo xuống bốn góc cho khỏi tốc. Trong chánh điện đèn dầu thắp sáng trưng, không có điện, cột điện ngoài đường đã ngã từ hồi chiều.
Ông chánh bái đình Mù U đứng ở bậc tam cấp chánh điện, chống gậy, khoác áo mưa ni lông, bên cạnh có một thằng cháu cầm đèn bão. Ông gầy, nhỏ, lưng còng gập, tóc bạc trắng thưa thớt, mặt nhăn như vỏ cây đước. Ông tên Hai Lịch, tám mươi bảy tuổi.
Ông Năm leo xuống xe tải. Thoa đỡ ông. Hai ông già đứng nhìn nhau qua màn mưa, qua ánh đèn bão chập chờn.
– Thằng Năm. – Ông Hai Lịch nói. – Con bà Bảy.
– Anh Hai.
– Năm đó mày mười tuổi. Tao mười tám. – Ông Hai Lịch nói. – Mày ngồi hàng đầu, tao đứng sau lưng mày. Tao thấy hết.
Ông Năm không nói gì. Ông chỉ nắm lấy bàn tay ông Hai Lịch, nắm chặt.
Ông Hai Lịch dẫn cả gánh vô chánh điện tránh mưa. Gió đập vô cửa ván rầm rầm. Mấy ngọn đèn dầu trên bàn thờ chao nghiêng mà không tắt. Người làng ngồi đầy hai bên vách, đàn bà ôm con nít, đàn ông hút thuốc, nhà nào gần đình cũng kéo lên đây tránh giông, như mọi lần có giông lớn.
Bà Tám không chịu vô ngồi. Bà đứng ở cửa chánh điện, la mấy người đàn ông đang khiêng hai cái rương từ xe tải lên, la từng bước chân. "Coi chừng cái góc!" "Đừng để nước vô!" Tới khi hai cái rương nằm yên sát vách, ngay dưới chân bàn thờ, phủ tấm bạt khô, bà mới chịu ngồi bệt xuống, thở dốc, tay lần chuỗi hạt.
Chú Ba Trọng thì không vô. Thoa ngoái lại, thấy chú đứng một mình ngoài sân, dưới gốc mù u, áo mưa trùm đầu, mưa quất ngang người. Chú nhìn cái nhà võ ca tối om bên kia sân, nhìn cái nền xi măng chỗ người ta sẽ dựng sân khấu. Đứng như vậy rất lâu. Rồi Thụ cầm cây đèn pin chạy ra, nói gì đó với chú, kéo tay áo chú. Chú để Thụ kéo vô, ngồi xuống góc cuối chánh điện, sát cửa, cách cả gánh một khoảng.
Ông Hai Lịch không dừng lại ở chánh điện. Ông dẫn ông Năm và Thoa đi qua một cánh cửa nhỏ bên hông, vô gian bên trái.
Gian bên nhỏ, vách ván, không có bàn thờ. Giữa gian, trên một cái bục gỗ thấp, đặt một chiếc ghế.
Một chiếc ghế gỗ dầu, kiểu ghế dựa xưa, lưng ghế chạm một cành sen, hai tay vịn cong. Gỗ đã ngả màu nâu sẫm, láng bóng như có người lau mỗi ngày. Trên mặt ghế phủ một tấm vải điều đã bạc màu. Không có ai ngồi. Ở cái làng này, sáu mươi chín năm nay, không có ai ngồi.
– Ghế bà Bảy. – Ông Hai Lịch nói. – Đêm đó xong, không ai ngồi lên nó nữa. Làng giữ.
Ông Năm đứng sững ở cửa gian. Thoa thấy ông run. Không phải run tay. Cả người ông run, từ đầu tới chân, như một cái cây trong gió giông ngoài kia.
Rồi ông làm một chuyện mà Thoa không bao giờ quên.
Ông buông cây gậy. Ông đi tới trước cái bục. Ông không ngồi lên ghế. Ông ngồi xuống sàn ván, ngay dưới chân cái bục, hai tay ôm lấy hai đầu gối, ngửa cổ lên nhìn chiếc ghế trống. Như một đứa con nít mười tuổi ngồi hàng đầu, ngay dưới chân sân khấu, ngửa cổ lên chờ má hát.
Ngoài kia, giông gầm thét. Một tia chớp loé qua khe vách, soi trắng tấm vải điều trên mặt ghế. Trong khoảnh khắc đó, Thoa thấy giữa tấm vải có một chỗ lõm xuống, nhẹ thôi, như vải đã bị đè lâu năm.
Như có người đang ngồi.
— Hết chương 31 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe