Chương 21: Lọn tóc buộc chỉ đỏ
Trên chiếc phà qua sông Tiền, ông Sáu Kình đứng ở lan can bên trái, bà Mười Gừng đứng ở lan can bên phải. Giữa hai người là một hàng xe máy, một chiếc xe tải chở dừa khô và ba mươi tám năm.
Từ Phước Lý tới bến phà, suốt một tiếng rưỡi đường, hai người ngồi trên cùng một chiếc xe khách mà không ai nói với ai một câu. Bà Mười ngồi băng chót, đôi quang gánh nhét dưới ghế, cái nón lá thủng chóp đặt trên đùi. Ông Sáu ngồi băng thứ tư, ôm cái trống chiến, lưng thẳng đơ như cây cột, không quay lại lần nào. Cả xe cũng không ai nói gì. Chỉ có bà Tám Liên, lúc bà Mười bước lên xe, đã đứng dậy, nhìn bà một lúc rất lâu, rồi đưa hai tay bụm miệng, ngồi phịch xuống, khóc không ra tiếng. Bà Mười đi ngang qua, đặt bàn tay có vết sẹo bỏng lên vai bà Tám một cái, rồi đi xuống cuối xe.
– Mầy già quá Lựu. – Bà Tám nói với theo, giọng vỡ ra. – Trời đất ơi, mầy già quá.
– Chị cũng già. – Bà Mười nói, không quay lại.
Bây giờ trên phà, gió sông thổi lồng lộng, nước sông Tiền đục ngầu phù sa, sóng vỗ mạn phà ì oạp. Mấy bà bán bánh bò, bán đậu phộng luộc len lỏi giữa hàng xe, rao lanh lảnh. Thoa đứng ở đầu phà với Thụ, cầm hai chai nước, không dám bước tới chỗ nào.
Ông Sáu Kình là người đi trước. Ông đi qua hàng xe máy, chậm, như người đi trên ván cầu khỉ, tới đứng cạnh bà Mười. Hai người nhìn ra sông, không nhìn nhau.
Ông móc trong túi áo ra cái túi ni lông nhỏ ố vàng. Ông không nói gì, chỉ đặt nó lên thanh lan can sắt, giữa hai người.
Bà Mười nhìn lọn tóc. Một lọn tóc đen nhánh, dài một gang tay, cột bằng sợi chỉ đỏ đã bạc màu. Tóc của một người đàn bà hai mươi tám tuổi. Bà đưa tay lên sờ mái tóc bạc trắng cắt ngắn của mình.
– Ông giữ ba mươi sáu năm. – Bà nói. – Sao ông không tới?
– Tui sợ.
– Sợ cái gì?
– Sợ tới đó thấy bà có chồng. Sợ tới đó thấy bà không muốn thấy tui. Sợ tới đó không thấy ai hết, rồi tui phải tin bà chết thiệt. – Ông Sáu nói. Giọng ông sang sảng thường ngày giờ khàn đặc. – Giữ cái này thì bà còn sống. Tới đó thì chưa chắc.
Bà Mười cười. Cái cười khô khốc, ngắn, mà Thoa đứng xa cũng thấy được hai vai bà rung lên.
– Cái tật của ông. – Bà nói. – Hồi đó cũng vậy. Cái gì ông cũng giữ. Không dám mở ra coi.
Ông Sáu không cãi. Ông cầm cái túi ni lông lên, mở miệng túi, lấy lọn tóc ra. Gió thổi mấy sợi tóc bay phất phơ. Ông đặt nó vô lòng bàn tay bà.
– Trả bà. – Ông nói. – Tui giữ đủ rồi.
Bà Mười nắm lọn tóc lại. Bà nhìn xuống sông một lúc lâu. Rồi bà nói, nhỏ, nhưng gió đưa tới chỗ Thoa đứng:
– Thằng nhỏ là con ông.
Ông Sáu Kình đứng im. Hai bàn tay ông bấu lấy thanh lan can, các đốt ngón tay trắng bệch.
– Tui biết. – Ông nói. – Tui biết từ đêm ba mươi Tết. Cái khăn voan. Cái tiếng khóc. Tui biết. Tui không dám biết.
– Nó giận tui. Nó bỏ đi rồi.
– Nó về. – Ông Sáu nói. – Nó là con tui. Con tui giận thì đi ra ruộng ngồi, ngồi đã rồi về. Hồi nhỏ nó vậy hoài.
Thụ kéo nhẹ tay áo Thoa. Hai người quay đi, đi xuống phía đuôi phà, để lại hai ông bà già đứng ở lan can, giữa gió.
Đình Mỹ Lương nằm giữa miệt vườn, sau lưng là một con rạch nhỏ đổ ra sông Tiền, trước mặt là con lộ đal hai bên vườn bưởi, vườn nhãn đang trổ bông. Đường vô đình phải qua ba cây cầu khỉ đã được làng đổ bê tông, mỗi cây có tên riêng, cầu Ông Đồ, cầu Bà Hai, cầu Đình. Mùi bông bưởi thơm nồng tới chóng mặt.
Đình cũ, mái ngói âm dương, cột gỗ lim, sân rộng lát gạch tàu. Nhà võ ca đối diện chánh điện cao hơn mấy đình trước, sàn ván, có mái ngói, có cả gác xép ở hậu trường. Ông Tư chánh bái ra đón gánh ở cổng. Ông chừng bảy mươi, tóc bạc trắng chải ngược, mặc áo dài đen, dáng cao lêu nghêu.
Ông bắt tay ông Năm. Ông bắt tay ông Sáu, lắc lắc thật lâu, hai ông già cười như con nít. Rồi ông nhìn qua đám người trong gánh đang khiêng đồ xuống xe. Ánh mắt ông dừng lại ở bà già đội nón lá thủng chóp đang lom khom nhấc đôi quang gánh xuống.
Ông đứng sững lại.
Bà Mười Gừng đứng thẳng lên, nhìn ông. Bà không cúi đầu. Bà gỡ cái nón lá xuống.
– Anh Tư. – Bà nói. – Tấm hình năm đó anh còn giữ không?
Ông Tư há miệng, không ra tiếng. Rồi ông bước tới, run run nắm lấy hai tay bà, nhìn cái vết sẹo bỏng trên mu bàn tay trái, nhìn cái mặt nhăn nheo đen sạm, nhìn đôi mắt đuôi xếch.
– Còn. – Ông nói. – Trời đất ơi. Còn. Tui để trong khung kiếng trên bàn thờ ông già tui. Cả làng tưởng cô chết, mấy chục năm rồi.
– Chết rồi. – Bà Mười nói. – Giờ là bà Mười bán chè.
Chiều đó, cả xóm Mỹ Lương biết tin. Mấy bà già trong làng kéo tới đình, đứng xa xa nhìn, rồi lại gần, rồi có bà ôm lấy bà Mười mà khóc. Năm tám mươi bảy, Chín Lựu về hát ở đình này, là con gái của làng, đứa con gái mồ côi ông thầy đồ cho ngồi học chữ ké. Người ta còn nhớ. Ở miệt vườn, người ta nhớ lâu hơn ở thành phố.
Thoa và Thụ ra ngồi ở bến sông sau đình. Bến có một chiếc đò nhỏ buộc vô gốc bần, và một bà già ngồi trên bậc đá lặt rau. Bà gầy như cái que, tóc búi cao, miệng nhai trầu bỏm bẻm. Ông Tư chỉ cho Thoa: bà Ba Nhị, tám mươi lăm tuổi, con gái ông lái đò cũ của làng.
– Năm năm mươi bảy, bà mười sáu tuổi. – Ông Tư nói. – Bà chèo đò cho ba. Bà có chở bà Bảy Ngọc.
Bà Ba Nhị không cần ai hỏi nhiều. Bà kể, tay vẫn lặt rau, như kể chuyện hôm qua.
– Bữa đó sáng sớm. Bà Bảy Ngọc ra bến, nói muốn qua chợ bên kia mua ít trầu. Bà ngồi đằng mũi. Tui chèo đằng lái. Ra giữa sông, bà thò tay xuống nước, để cho nước chảy qua mấy ngón tay. Bà ngâm một câu. Tui nghe rõ lắm, tại sông bữa đó lặng.
– Câu gì bà?
Bà Ba Nhị ngừng lặt rau. Bà nhìn ra sông Tiền, nơi nước đang lớn, những đám lục bình trôi ngược vô con rạch.
– Nước đưa đi rồi nước đưa về.
Thụ bấm máy ghi âm. Thoa ngồi im, lặp lại câu đó trong đầu, đặt nó cạnh hai câu kia. Trả ấn rồi, tay nhẹ như sương. Đèn ai thắp đó, thôi ai đừng đợi. Nước đưa đi rồi nước đưa về. Ba câu không cùng một vần, không chắc cùng một lớp. Nhưng khi cô ngâm chúng nối nhau trong đầu, theo đúng cái nhịp chậm của lớp Ngọc Nữ đứng ở cổng đình, chúng tự đi vào nhau như ba dòng nước chảy chung một con sông.
– Bà Bảy ngâm câu đó xong thì hỏi tui, "Con có biết nước đưa ai về không?". – Bà Ba Nhị nói. – Tui nói không biết. Bà cười. Bà nói "Ta cũng không biết". Rồi bà biểu tui chèo về, không mua trầu nữa.
Đêm mùng Sáu, gánh hát tuồng thầy đêm đầu ở Mỹ Lương.
Gần mười một giờ, tan hát, cả gánh đang dọn đồ thì có tiếng xe tải thắng gấp ngoài cổng. Không phải xe của gánh. Một chiếc xe tải nhỏ chở bưởi, thùng xe phủ bạt xanh. Một người đàn ông to con nhảy xuống từ ghế phụ, đưa tay chào ông tài xế, đóng cửa xe lại.
Đờn.
Anh đứng ở cổng đình, áo thun xám nhàu nát, râu ria lởm chởm, đôi dép tổ ong lấm đất. Anh không bước vô. Anh nhìn vô sân đình, nơi bà Mười Gừng đang ngồi trên bậc thềm nhà võ ca với ông Sáu Kình.
Ông Sáu đứng dậy trước. Ông đi ra cổng. Ông đứng trước mặt Đờn, hai cha con cao gần bằng nhau, cùng một kiểu đứng chàng hảng.
– Mầy đi đâu? – Ông Sáu hỏi.
– Con về Rạch Gáo. – Đờn nói. – Con ra ngồi ở cái cổng nhà Tổ. Ngồi một đêm. Sáng ra con đón xe xuống đây.
Ông Sáu gật đầu. Ông đưa tay lên, định vỗ vai Đờn, rồi tay ông dừng lại giữa chừng, lơ lửng. Đờn nhìn bàn tay đó. Rồi anh cúi đầu xuống một chút, đủ để bàn tay ông chạm vô vai anh.
– Ông Sáu. – Đờn nói.
– Ừ.
Không ai nói thêm gì. Bà Mười Gừng vẫn ngồi trên bậc thềm, không đứng dậy, chỉ nhìn. Đờn nhìn qua bà một cái, rồi đi thẳng ra chỗ xe tải của gánh, mở cửa cabin, leo lên.
Gần nửa đêm, ở gian khách đình, Thoa hỏi ông ngoại cái câu cô đã giữ trong miệng ba ngày.
Trong gian có ông Năm, ông Sáu, bà Tám, chú Ba Trọng. Chú Ba đang cộng tiền dầu trên cuốn sổ bìa xanh. Thoa đứng ở cửa.
– Ngoại. Năm Canh Dần, ngoại có bán cái mặt nạ cho ông Bửu không?
Cây bút trên tay chú Ba ngưng lại.
Ông Năm ngẩng lên. Mặt ông đỏ bừng, rồi tái đi.
– Ai nói với con?
– Ông Bửu nói. Ông nói năm đó có một người trong gánh tới tiệm ổng, nhận cọc ba chục triệu, hẹn cuối mùa giao cái mặt nạ đời đầu. Ổng nói con thử nghĩ coi ai cần tiền nhứt, ai lo sổ sách, ai quyết bán.
Ông Năm đứng dậy, tay chống lên mặt bàn, run bần bật. Ông nhìn Thoa. Rồi ông quay qua, chậm rãi, nhìn người đàn ông đang cầm cây bút.
– Không phải anh Năm. – Chú Ba Trọng nói. Chú đặt cây bút xuống. – Con.
Cả gian im phăng phắc. Bà Tám đưa tay bụm miệng.
Chú Ba kể, giọng nhỏ nhẹ, đều đều, như đọc một bản hợp đồng. Năm Canh Dần, gánh nợ lương anh em năm tháng, nợ tiền dầu, nợ tiền sửa xe. Ông Năm đi vay khắp nơi không ai cho. Chú đi gặp ông Bửu, nhận cọc ba chục triệu, đem về nói là tiền ứng của một đình, trả lương cho anh em. Chú thuê một ông thợ sơn ở miệt Thủ làm cái mặt nạ giả, giống y, chép cả mấy cái tên. Gần cuối mùa, chú đổi.
– Cái thiệt, con cất trong cái giỏ đệm, nhét dưới băng ghế chót xe khách. Chờ mãn mùa giao. – Chú nói. – Sáng hôm Lệ mất, con đi coi thì cái giỏ không còn. Con nghĩ Lệ biết. Lệ lấy. Rồi Lệ té. Cái mặt nạ chắc rớt xuống sông. Con kiếm dọc bờ sông ba ngày mà không thấy. Con nói với ông Bửu nó mất theo người. Con trả lại cọc ba năm.
– Mầy bán mặt má tao. – Ông Năm nói. Giọng ông không lớn. Nó run như sợi dây đờn sắp đứt.
– Dạ.
– Mầy để con Lệ đội đồ giả.
Chú Ba cúi đầu.
Ông Năm giơ tay lên. Cả gian nín thở. Bàn tay gầy guộc của ông đứng lơ lửng trên không trung, run run, trên đầu người kép chánh ông đã nuôi từ năm mười lăm tuổi. Rồi bàn tay đó hạ xuống, chống lên mặt bàn.
– Hát cho hết mùa. – Ông nói. – Hết mùa mầy đi khỏi gánh.
Ông quay lưng đi vô buồng.
Thoa đứng ở cửa, không nhúc nhích. Cô nhìn chú Ba. Cái giỏ đệm dưới băng ghế chót xe khách. Cái áo mưa màu cam cũng dưới băng ghế chót xe khách. Cô không nói ra. Cô hỏi một câu khác, câu mà cả gian ai cũng đang nghĩ.
– Vậy ai để nó lên bàn thờ đình Tân Lộc?
Chú Ba Trọng ngẩng lên nhìn cô. Ông Sáu nhìn chú. Bà Tám nhìn ông Sáu. Không ai trả lời.
Ngoài sân, gió thổi qua vườn bưởi, mùi bông bưởi tràn vô gian khách, ngọt tới lợm giọng. Bà Tám chắp hai tay lại, môi mấp máy, nói rất khẽ, khẽ tới mức chỉ Thoa đứng gần mới nghe được:
– Cô đem về.
— Hết chương 21 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe