Chương 34: Lớp chót
Trăng mười sáu mọc lúc chạng vạng, từ phía rừng đước, và nó đỏ.
Không đỏ thẫm như đêm nguyệt thực ở Vĩnh Phước. Nó đỏ cam, màu lòng đỏ hột vịt muối, to tướng, treo lơ lửng trên ngọn đước, nhìn xuyên qua một khe hở giữa hai dải mây đen. Người làng Mù U đang khiêng ghế nhựa ra sân đình dừng lại ngó. Có bà già chắp tay vái. Rồi mây khép lại. Vầng trăng chìm mất, để lại một quầng sáng đục mờ sau lớp mây, như ngọn đèn dầu sau tấm vải màn.
– Trăng tròn đêm thứ bảy. – Ông Hai Lịch nói, đứng trên bậc tam cấp. – Năm đó cũng vậy.
Hồi chiều, ông đã biểu bốn thằng thanh niên trong làng vô gian bên, khiêng cái ghế dầu chạm sen ra, đặt lên giữa sân khấu. Tấm vải điều bạc màu ông giở ra, gấp lại, cất đi. Sáu mươi chín năm cái ghế mới ra khỏi gian bên lần đầu. Mấy thằng thanh niên khiêng mà tay run, đặt xuống rồi lùi ra liền, không đứa nào dám đứng gần.
Trong buồng hoá trang, bà Tám Liên mặc áo cho Thoa.
Bà làm chậm. Chậm hơn mọi đêm. Bà vuốt từng nếp áo thụng trắng, sửa từng đường chỉ bạc hình sóng nước, thắt sợi dây lưng xanh ngọc, thắt lại lần nữa cho thật ngay. Bà choàng cái khăn voan trắng viền chỉ bạc lên đầu cô. Bà thoa phấn lên cổ, lên hai bàn tay cô.
Rồi bà lấy sợi chỉ đỏ ra.
Bà cột lên cổ tay trái Thoa. Một gút. Hai gút. Ba gút. Bà không dừng ở ba. Bà cột thêm gút thứ tư. Gút thứ năm. Hai tay bà run, mà gút nào cũng chặt.
– Đêm nay bà không quên. – Bà nói. Giọng bà khàn đặc. – Bà không quên nữa.
Thoa cầm lấy hai bàn tay bà, khô như lá chuối. Cô không nói gì. Cô chỉ nắm.
Bà Tám đưa chiếc mặt nạ.
Thoa cầm nó trên hai tay. Cô nhìn đôi môi hé mở. Nhìn hai lỗ mắt đen. Nhìn cái mép mẻ hình lưỡi liềm ở chỗ buộc quai bên phải. Cô lật mặt trong lên một lần cuối. Năm cái tên. Bảy Ngọc, Ba Lài, Chín Lựu, Út Lệ, Kiều Thoa. Hai chữ Bính Ngọ nghiêng nghiêng mực còn mới. Vệt nâu sẫm thấm vô thớ gỗ.
Cô lật nó lại. Cô đặt ngón tay trỏ lên giọt lệ vàng. Đường gồ sần sần như một vết khâu cũ.
– Con xin cô. – Cô nói.
Cô úp nó lên mặt. Bà Tám buộc quai.
Sân đình Mù U đêm đó không có điện lưới. Dàn đèn sân khấu chạy bằng cái máy phát chú Út Bền sửa cả ngày, kêu xình xịch sau nhà võ ca. Ngoài sân, người làng treo đèn bão lên mấy nhánh mù u, đặt đèn dầu dọc mép sân khấu, cắm đuốc tre dầu lửa ở cổng. Người ta ngồi chật sân, ngồi trên chiếu, trên ghế nhựa, trên mấy khúc đước gãy hồi đêm qua. Con nít leo lên mấy cây mù u, ngồi vắt vẻo trên chạc ba.
Bà Út Chà ngồi hàng thứ hai, bên cạnh cháu gái.
Ông Hai Lịch làm lễ xây chầu. Ông đọc bài khấn bằng cái giọng run run rành rọt, chữ Hán chữ nôm lẫn lộn. Ông xin thần làng chứng giám, xin cho gánh Phước Xuân hát trọn đêm chót, xin cho người đi được đi, người ở được ở. Đọc xong, ông đánh một tiếng trống chầu thật lớn. Rồi ông đứng dậy, cúi đầu, đưa cây dùi chầu bằng hai tay cho ông Năm.
Ông Năm ngồi xuống sau trống chầu. Ngay giữa hàng đầu, ngay dưới chân sân khấu. Ông mặc áo dài đen ông Hai Lịch cho mượn, đội khăn đóng. Sợi chỉ đỏ trên cổ tay ông lấp ló dưới ống tay áo. Ông cầm dùi trên tay phải, đặt tay trái lên mặt trống, như người ta đặt tay lên lưng một con trâu già.
Bên cạnh trống chầu, sau giá micro của Thụ, bà Mười Gừng ngồi chồm hổm, như cái đêm ở Vĩnh Phước, đội cái nón lá thủng chóp. Ông Sáu Kình ngồi trên sân khấu, góc cánh gà, trống chiến trước mặt. Đờn đứng ở dây màn. Ngò đứng sau cánh gà, ôm cái hộp ấn bọc vải đỏ sờn bạc của ông Hai Lịch.
Ở cuối sân, dưới gốc mù u, ngay cái cổng đình thật bằng gạch đã rêu phong, chú Ba Trọng ngồi một mình trên một khúc đước.
Trống chiến dồn ba hồi. Kèn chú Út Bền vút lên. Đờn kéo màn.
Thoa bước ra.
Cô hát lớp đầu. Ngọc Nữ ôm ấn đứng bờ sông, nhìn ghe cướp tới. Giọng cô đi qua lớp gỗ, trầm, xa, mà chắc. Gió biển thổi vô sân khấu từng cơn, làm vạt áo thụng trắng của cô bay phần phật. Cô không leo vọng lâu. Không có vọng lâu. Cô đứng ở mép sân khấu, nhìn qua đầu người làng, nhìn ra cửa biển tối đen.
Ông Năm đánh chầu. Tùng. Ông đánh dở thiệt. Tiếng tùng của ông nhỏ, lệch nhịp, có lần dùi trượt xuống mép trống kêu bộp. Mà không ai cười.
Lớp hai. Ngọc Nữ gieo mình xuống sông. Cô hát hết câu, không mất tiếng, không lạc giọng. Giữa câu, gió đổi chiều, mưa bắt đầu lất phất bay ngang.
Lớp hồn về. Mưa nặng hạt dần. Người làng không ai về. Đàn ông kéo mấy tấm bạt che lên đầu đàn bà con nít. Mấy ngọn đèn dầu dọc mép sân khấu chao nghiêng.
Tới lớp áp chót thì cái máy phát tắt.
Không khục khặc, không ho. Nó tắt cái phụt, như có ai rút dây. Dàn đèn sân khấu tối om. Sân đình còn lại ánh đèn bão treo trên cành mù u, ánh đuốc ở cổng, và mấy ngọn đèn dầu dọc mép sân khấu. Rồi cả sân lấm tấm ánh đèn điện thoại, như cái đêm ở Phước Lý.
Không ai la. Đêm nay không ai la "Cô về".
Thoa đứng giữa sân khấu, trong ánh đèn dầu vàng ấm. Cô nhớ ông Năm nói ở Phước Lý: đèn dầu rọi vô thì cái mặt nạ nó ấm lên, nó vàng lên, nó giống mặt người.
Cô bước tới cái cổng đình bằng tre ở góc sân khấu. Hai cánh cửa nan tre phất giấy đỏ đóng khít. Cô đứng trước nó, ôm cái hộp ấn Ngò vừa đưa, nâng lên ngang ngực.
– Đình ơi, mở cửa cho con về.
Chữ "về" của cô kéo xuống, thật sâu, sâu tới đáy, rồi nhấc lên một chút. Như sóng chạm bờ rồi rút.
Mọi đêm, tới đây là đèn tắt, màn kéo lại. Đêm nay đèn đã tắt sẵn. Đờn đứng ở dây màn, không kéo.
Thoa quay lưng lại cái cổng đóng kín. Cô đi tới giữa sân khấu, tới chỗ cái ghế dầu chạm sen. Cô đứng trước nó một chút. Rồi cô ngồi xuống.
Gỗ ghế lạnh. Cứng. Hai tay vịn cong vừa khít dưới hai cánh tay cô. Cô ngồi đó, hai tay ôm cái hộp ấn trên đùi, ngó xuống.
Ngay dưới chân sân khấu, ông Năm ngồi sau trống chầu, ngửa cổ lên nhìn cô. Ông giơ cây dùi lên. Ông giữ nó ở đó, lơ lửng trên mặt trống.
Ông Sáu Kình đánh trống chiến. Chậm. Đều. Chờ.
Thoa ngồi. Cô nghe mưa quất lên mái tôn nhà võ ca. Cô nghe sóng ngoài cửa biển. Cô nghe tim mình đập trong lớp gỗ, mỗi nhịp một chậm hơn. Cô nghe một cái gì đó nặng xuống trên hai vai, như có hai bàn tay ai đặt lên, không ấn, chỉ đặt. Hai cái lỗ hạt đậu thu hẹp lại. Cô thấy ông ngoại mình dưới chân sân khấu, cây dùi giơ lên, gương mặt già nua ngửa lên trong ánh đèn dầu. Mà cô thấy cả một thằng nhỏ mười tuổi, ngồi trên chiếc chiếu, ôm hai đầu gối, ngửa cổ lên, giơ tay vẫy.
Cô thấy mình mệt. Cô thấy cái ghế ôm lấy mình. Cô thấy ngồi yên thì dễ hơn đứng dậy.
Ông Sáu Kình đánh thêm một hồi trống chiến. Rồi thêm một hồi nữa.
Dưới sân, có người bắt đầu xì xào.
Rồi Thoa nghe một tiếng. Không phải trống. Không phải mưa. Một tiếng hát rất nhỏ, thấp, khàn, ngay dưới chân sân khấu, cạnh cái trống chầu. Không có lời. Chỉ ngân. Ngân đúng giai điệu câu ra, rồi tới chữ "về" thì vút lên, cao, lơ lửng, như người đã đi tới cổng mà còn ngoái lại.
Bà Mười Gừng. Ngồi chồm hổm sau giá micro, cái nón lá thủng chóp ngước lên.
Ngoái lại.
Thoa đứng dậy.
Cô đứng dậy khỏi cái ghế. Hai tay ôm cái hộp ấn. Hai bàn tay đặt trên vai cô, nếu có, rơi ra.
Ông Năm đánh xuống.
Tùng.
Tiếng tùng đó không dở. Nó tròn, dày, chắc, vang ra tới tận cổng đình, dội vô vách chánh điện, át cả tiếng mưa. Cái tiếng tùng mà một ông chánh bái đã giơ dùi chờ sáu mươi chín năm trước không đánh được.
Thoa hát lớp chót.
Không ai dạy cô. Cô có ba câu, nhặt từ ba người già ở ba ngôi đình. Cô không biết cái nhịp, cái điệu, cái lối. Cô hát theo cái nhịp chậm của lớp Ngọc Nữ đứng ở cổng đình, và để cho mấy chữ tự tìm đường.
– Nước đưa đi rồi nước đưa về.
Ông Năm đánh tùng.
Cô bước tới cái cổng tre. Cô quỳ xuống trước nó, đặt cái hộp ấn bọc vải đỏ sờn bạc lên ngưỡng cửa, ngay khe hai cánh cửa giấy đỏ đóng khít.
– Trả ấn rồi, tay nhẹ như sương.
Tùng.
Cô đứng dậy. Cô quay ra sân. Cô nhìn những ngọn đèn dầu, đèn bão, đèn điện thoại lấm tấm trong mưa. Cô nhìn bà Tám đứng ở cánh gà bụm miệng. Nhìn bà Mười dưới chân sân khấu. Nhìn ông Năm.
– Đèn ai thắp đó, thôi ai đừng đợi.
Tùng.
Rồi cô hết câu. Ba câu đã hết. Bà Thiệt ngâm tới chữ "sương" là ngưng, như chưa biết câu sau là gì. Cô đứng giữa sân khấu, mưa tạt vô lớp gỗ mặt nạ, và không còn câu nào trong đầu.
Câu thứ tư đi ra khỏi miệng cô trước khi cô biết nó là gì.
– Ai đội mặt ta, ta trả mặt cho người.
Cô đưa hai tay lên sau gáy. Cô gỡ cái quai vải đỏ. Nút thắt bà Tám buộc, mọi đêm phải hai lần mới gỡ được, đêm nay tuột ra ngay lần đầu. Cô cầm chiếc mặt nạ bằng hai tay, kéo nó rời khỏi mặt mình.
Gió biển tạt thẳng vô mặt cô. Mát lạnh, ướt, mặn. Cô thấy sân đình bằng hai con mắt của mình, không còn hai lỗ hạt đậu, rộng mênh mông, đầy ánh đèn.
Cô đứng giữa sân khấu, mặt mộc, phấn trắng trên cổ đã chảy thành vệt, tóc bết vô trán. Cô ôm chiếc mặt nạ trước ngực, mặt nạ quay ra ngoài, đôi môi gỗ hé mở hướng về phía người làng, như cô đưa nó cho họ coi lần cuối.
Sau lưng cô có tiếng kẽo kẹt.
Hai cánh cửa nan tre phất giấy đỏ của cái cổng đình trên sân khấu, cái cổng mà Đờn với thằng Tồ đóng khít hồi chiều, mở ra. Chậm. Từng chút một. Một cánh mở trước. Rồi cánh kia. Cho tới khi cả hai cánh đứng yên, mở toang, ngay sau cái hộp ấn nằm trên ngưỡng cửa.
Gió. Ai ở dưới sân nói vậy, rất nhỏ. Gió biển mạnh.
Không ai cãi.
Ở hàng thứ hai, bà Út Chà đứng bật dậy, cháu gái níu không kịp. Bà không nhìn lên sân khấu. Bà quay ra sau, nhìn về phía cuối sân, phía cái cổng đình thật bằng gạch dưới gốc mù u, và bà đưa bàn tay run rẩy lên chỉ.
Mấy người quay lại theo tay bà. Ở cổng đình chỉ có ánh đuốc tre lập loè trong mưa, và chú Ba Trọng. Chú đã đứng dậy khỏi khúc đước. Chú đứng quay mặt về phía khoảng trống bên cạnh mình, dưới tán mù u, nơi không có ai. Rồi chú cúi đầu xuống. Cúi thấp. Thấp tới mức hai tay chú chạm đầu gối. Chú giữ yên như vậy, giữa mưa.
Ông Năm đánh chầu. Tùng. Tùng. Tùng. Một hồi dài, dồn dập, không dở chút nào.
Người làng đứng dậy. Không ai vỗ tay ngay. Họ đứng dậy trước, như đứng dậy khi đình rước sắc thần đi ngang. Rồi mới vỗ tay. Rồi mới la. Rồi mấy đứa con nít trên cây mù u la lên, lá mù u rơi lả tả.
Thụ ngồi sau giá micro, cái máy ghi âm trên đùi nhấp nháy đèn đỏ. Anh nhìn đồng hồ trên điện thoại. Anh ngẩng lên nhìn Thoa đứng giữa sân khấu, mặt mộc, ôm chiếc mặt nạ, và anh giơ cái điện thoại lên cho cô thấy.
Không giờ bảy phút.
Đêm thứ bảy đã qua.
— Hết chương 34 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe