Chương 15: Cái khăn viền chỉ bạc
Chiếc xuồng ba lá Đờn mượn của nhà giữ đình chòng chành dữ dội khi Thoa bước xuống. Thụ ngồi ở mũi, cầm hai cây đèn pin. Đờn ngồi lái, cầm dầm. Nước sông Vàm Cỏ đêm không trăng đen như mực tàu, đặc quánh, chảy xiết về phía hạ nguồn, kéo theo những đám lục bình trôi lừ đừ như những con thú ngủ.
– Nghe từ hướng nào? – Đờn hỏi, giọng run.
– Phía cái doi đất. – Thoa chỉ về phía tay phải, nơi bờ sông lồi ra một mỏm đất có mấy bụi bần. – Em nghĩ vậy.
Đờn bơi xuồng ra. Mái dầm khua nước lõm bõm. Hai luồng đèn pin của Thụ quét qua quét lại trên mặt sông, rọi vào những đám lục bình, những cọc tre cắm lô nhô ven bờ, những cái đó, cái lờ của dân chài phơi trên bãi. Không có ai. Không có một chiếc xuồng nào. Không có một ánh đèn nào.
Tới gần cái doi đất, Thụ chợt giữ đèn lại.
– Chỗ ni.
Giữa dòng, cách bờ chừng mười thước, có một cây cọc tre cao, cắm thẳng xuống đáy sông, loại cọc người ta đóng để giăng đáy bắt cá. Trên đầu cọc, ngay ngắn, có một cái chén sành nhỏ, men nâu, úp ngược.
Đờn bơi xuồng sát lại. Thoa đưa tay nhấc cái chén lên. Bên trong khô ráo. Chỉ có mấy hột mè rang dính ở đáy chén, và mùi gừng, nhè nhẹ, cay cay.
Cô cầm cái chén trong lòng bàn tay, nhìn quanh mặt sông đen kịt. Ở đâu đó trong bóng tối kia, có một người đang ngồi trên một chiếc xuồng không đèn, nhìn họ. Cô cảm thấy rõ ràng như vậy, như cảm thấy hơi lạnh của nước bốc lên.
– Chèo xuồng không đèn giữa sông ni ban đêm, nước chảy xiết như rứa, phải là người rành sông lắm. – Thụ nói nhỏ. – Người lạ thì lật xuồng lâu rồi.
– Người sống trên sông cả đời. – Thoa nói.
Đờn ngồi ở lái, không nói gì. Mái dầm trong tay anh dừng lại, nước nhỏ giọt từ đầu dầm xuống mặt sông, tí tách, tí tách.
– Cô ơi. – Cô gọi to. Giọng cô vang trên mặt sông, rồi tắt ngấm. – Cô ơi, con là Thoa. Con là con của Út Lệ.
Không có tiếng trả lời. Chỉ có tiếng nước vỗ vào mạn xuồng, tiếng một con cá quẫy đâu đó gần bờ.
Họ quay về khi đã gần một giờ sáng.
Ông Sáu Kình vẫn ngồi trên bậc đá trên cùng của bến, nhưng bây giờ bà Tám đã ngồi cạnh ông, khoác cho ông một cái áo gió. Ông Năm đứng ở trên, tựa vô cây cột đá đầu bến. Mấy người khác trong gánh đã bị ông Năm đuổi về ngủ hết. Chỉ có chú Ba Trọng đứng xa xa dưới gốc gòn, một đốm lửa thuốc lá lập loè trong bóng tối.
Thoa đặt cái chén sành xuống bậc đá, ngay trước mặt ông Sáu.
Ông nhìn cái chén. Rồi ông mở bàn tay trái ra. Ông đã nắm chặt nó suốt từ chiều tới giờ.
Trong lòng bàn tay ông là một cái túi ni lông nhỏ, loại người ta đựng đinh vít, đã ố vàng, mờ đục. Bên trong túi là một lọn tóc đen, dài chừng một gang tay, buộc bằng một sợi chỉ đỏ.
– Năm chín mươi. – Ông Sáu nói. – Tháng Tám. Có người gửi về nhà Tổ một cái phong bì. Không đề tên người gửi. Chỉ đề tên ông. Trong phong bì có cái này.
– Ông Sáu… – Bà Tám đưa tay bụm miệng.
– Dấu bưu điện mờ lắm. Ông đọc mãi mới ra mấy chữ. Bưu điện một xã cù lao trên sông Hậu.
Ông Năm, đứng trên đầu bến, cựa mình một chút. Thoa liếc lên, nhưng trong bóng tối cô không thấy được mặt ông.
– Ông không đi. – Ông Sáu nói tiếp. – Ông giữ cái này ba mươi sáu năm mà ông không đi. Ông sợ. Ông sợ tới đó mà không có ai. Ông sợ tới đó mà có.
Ông im lặng một lúc lâu. Rồi ông kể. Ông kể cho Thoa, cho Đờn, cho Thụ đang lặng lẽ đặt cái máy ghi âm xuống bậc đá. Ông kể như người ta lần lại từng hạt trong một chuỗi tràng hạt cũ.
Năm tám mươi bảy, Chín Lựu hai mươi lăm tuổi, đào chánh của gánh Phước Xuân. Ông Sáu ba mươi bảy, kép võ, nghèo rớt mồng tơi, ngoài cái giọng với cặp giò nhảy lộn mèo ra thì không có gì. Hai người thương nhau. Cả gánh biết, không ai nói.
Năm đó gánh nợ một ông chủ lò gạch bên sông Tiền, ông Ba Phó. Nợ tiền mua xe, nợ tiền may phông màn mới. Ông Ba Phó năm mươi tuổi, vợ mất, coi Chín Lựu hát ở đình Mỹ Lương một lần thì mê. Ông ta xin cưới. Ông bầu Tảo lúc đó đã già, ngồi nhà nhiều hơn đi gánh, nghe ông Ba Phó hứa xoá nợ thì gật đầu.
– Lựu không chịu. – Ông Sáu nói. – Lựu nói với ông, mùa Mậu Thìn hát xong, hai đứa bỏ gánh đi. Đi đâu cũng được.
Mùa Mậu Thìn, Chín Lựu đội mặt nạ Ngọc Nữ. Đám cưới với ông Ba Phó định sau mùa diễn, tháng Ba âm lịch.
Đêm thứ sáu, ở đình Tân Thạnh, cù lao giữa sông Hậu. Hát xong, Lựu nói với cả gánh là qua bờ bên kia thăm một bà dì. Lựu đi một mình, chèo xuồng.
– Lựu không nói với ông. – Ông Sáu nói, giọng đều đều. – Lựu đi mà không nói với ông.
Sáng ra, người ta thấy chiếc xuồng lật úp, mắc vô bãi bồi cuối cù lao. Cả gánh, cả làng đi kiếm ba ngày ba đêm. Ông Sáu không ăn không ngủ, lặn ngụp dọc bờ sông tới mức hai tay hai chân sưng phù. Không thấy.
– Ông tưởng Lựu chết. – Ông Sáu nói. – Rồi có lúc ông tưởng Lựu bỏ ông mà đi. Rồi có lúc ông tưởng ông Ba Phó làm gì đó. Ông nghĩ đủ thứ. Ba mươi tám năm nay ông nghĩ đủ thứ.
Ông quay qua nhìn Đờn. Đờn ngồi xổm ở bậc đá dưới, hai tay ôm đầu gối, nhìn ông chằm chằm.
– Đêm ba mươi Tết năm sau, Tết Kỷ Tỵ. – Ông Sáu nói. – Ông đi cúng giao thừa ngoài sân về, thấy ở cổng nhà Tổ có một cái gói. Ông tưởng ai bỏ con mèo. Ông lại coi. Một đứa con nít mới mấy tháng tuổi, quấn trong một cái khăn.
– Con biết rồi. – Đờn nói, giọng khàn. – Ông Năm kể con nghe rồi. Con biết con là đứa bị bỏ ở cổng.
– Ông Năm có kể con nghe cái khăn không?
Đờn lắc đầu.
– Cái khăn voan trắng, viền chỉ bạc. – Ông Sáu nói. – Cái khăn choàng của áo Ngọc Nữ. Bà Tám may hai cái. Một cái con Thoa choàng bây giờ. Một cái nữa mất theo Lựu năm Mậu Thìn. Lựu choàng nó khi xuống xuồng đêm đó.
Bà Tám khóc thành tiếng.
Đờn ngồi im như tượng đá. Thoa thấy hai bàn tay to lớn của anh, đang ôm đầu gối, siết lại từ từ, từ từ.
– Ông Năm đặt tên con là Đờn. – Ông Sáu nói. – Vì con khóc như tiếng đờn cò. Ông bế con vô. Ông nuôi con. Ông không dám nghĩ cái khăn đó nghĩa là gì. Ông đoán, rồi ông không dám đoán nữa.
– Cái khăn đó… – Đờn hỏi, giọng như bị bóp nghẹt. – Còn không ông?
– Bà Tám giữ. – Ông Sáu nói. – Trong rương mão áo.
Đờn đứng dậy. Anh đứng đó một lúc, nhìn ra sông đen. Rồi anh quay lưng đi lên, đi thẳng qua sân đình, đi về phía xe tải. Không ai gọi anh lại.
Thoa ngồi xuống chỗ Đờn vừa ngồi. Cô nhìn cái chén sành úp trên bậc đá, nhìn lọn tóc trong túi ni lông, nhìn cái bóng của ông Năm đứng trên đầu bến, bất động.
– Ông Sáu. – Cô hỏi. – Đêm má con mất, ông ở đâu?
Ông Sáu ngước lên nhìn cô. Ông không ngạc nhiên vì câu hỏi.
– Ông ngủ trong nhà võ ca. Đêm đó mưa. Ông già rồi, ông ngủ say. – Ông dừng lại, nhớ. – Mà sáng ra ông nhớ có một chuyện. Thằng Đờn say quắc cần câu, ngủ dưới mấy chiếc ghe đậu ở bến. Sáng ra nó la quá trời vì mất cái áo mưa. Cái áo mưa màu cam, của gánh mua phát cho anh em. Kiếm cả buổi mới ra. Nằm dưới băng ghế chót xe khách, ướt nhẹp, nhàu nát.
– Dưới băng ghế xe khách?
– Ừ. Ai mặc rồi bỏ đó. Hồi đó lộn xộn quá, đâu ai để ý.
Thoa không nói gì. Cô nghĩ tới chú Ba Trọng, chú nói chú say, chú leo lên xe khách nằm, chú ngủ quên.
Cô quay lại nhìn về phía gốc gòn. Đốm lửa thuốc lá đã tắt. Không còn ai đứng đó nữa.
Thoa đi ra xe tải. Cửa cabin mở. Đờn ngồi bên trong, hai chân gác lên bảng đồng hồ, nhìn trân trân ra kính chắn gió tối om.
– Anh Đờn.
– Em lên đi.
Cô leo lên, ngồi xuống ghế phụ. Mười sáu năm trước, cô nằm ngủ trong chính cái cabin này, nghe tiếng chuông. Mùi dầu nhớt vẫn vậy.
– Ông Sáu là ba anh hả Thoa? – Đờn hỏi, không quay lại.
– Em không biết. Ông Sáu cũng không biết.
– Ổng nuôi anh như con. Ổng dạy anh múa thương, dạy anh đánh trống. Hồi anh mười tuổi anh trốn học đi câu cá, ổng rượt anh chạy ba vòng xóm. – Đờn cười, cái cười méo xệch. – Anh cứ tưởng ổng thương anh vì ổng không có con.
– Thì ổng thương anh thiệt.
Đờn im lặng một lúc lâu. Ngoài kia, ếch nhái kêu râm ran.
– Nếu bà đó còn sống, thì bả bỏ anh. – Anh nói. – Bả để anh nằm ở cổng một mình, đêm ba mươi Tết. Lỡ con chó nhà ai đi ngang thì sao. Lỡ không ai ra thì sao.
– Có người ra mà anh. Ông Sáu ra.
– Ờ. – Đờn nói. – Ông Sáu ra.
Anh với tay lấy cái khăn lau mặt vắt trên bảng đồng hồ, chùi mặt. Thoa không biết anh chùi mồ hôi hay chùi gì khác.
Sáng mùng Hai, Thoa thức dậy vì tiếng điện thoại của ông Năm.
Ông nghe máy ngay trên sân khấu, chỗ ông nằm. Ông nghe một lúc lâu, mặt đanh lại. Rồi ông không nói gì, chỉ đưa cái điện thoại cho chú Ba Trọng đang ngồi bên cạnh.
Chú Ba nghe. Chú nói "Dạ… dạ… anh Hai cho em hỏi ai…", rồi chú im, nghe tiếp. Khi chú tắt máy, mặt chú trắng bệch.
– Ban quý tế đình Mỹ Lương. – Chú nói với cả gánh. – Họ muốn huỷ hợp đồng. Có người đề nghị đưa một đoàn cải lương về hát ba đêm cho đình, không lấy tiền. Còn cúng đình thêm hai chục triệu. Họ nói xin lỗi gánh mình, mà làng nghèo, không từ chối được.
Ông Sáu Kình nhổ bã trầu xuống đất.
– Ai đề nghị?
– Họ không nói. – Chú Ba nói. – Họ chỉ nói, một ông chủ có cơ sở ở Chợ Lớn.
— Hết chương 15 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe