Chương 2: Giọt lệ vàng
Sáng ra, Thoa thức dậy vì tiếng ai đó đang đếm.
– Một người chết ngồi. Một người mất tiếng. Một người mất xác. Một người té. Bốn.
Cô ra hiên. Dưới giàn bông giấy, ông Sáu Kình ngồi trên cái đôn sành, đưa bốn ngón tay vàng khè mùi trầu ra trước ống kính điện thoại của Ngò. Con nhỏ ngồi chồm hổm trước mặt ông, miệng há hốc, quên cả bấm dừng.
– Ông Sáu kể lại từ đầu cho con quay đi ông. – Ngò năn nỉ. – Hồi nãy con quên mở tiếng.
– Kể một lần thôi. Chuyện này kể nhiều xui.
Nhưng thấy Thoa đứng ở cửa, ông lại kể. Có lẽ ông kể cho cô.
Năm Đinh Dậu, một chín năm mươi bảy, bà Bảy Ngọc, vợ ông bầu Tảo, đào khai gánh, đội vai Ngọc Nữ tới đêm thứ bảy ở đình Mù U, dưới mũi đất. Tới lớp áp chót, bà bước tới cái ghế gỗ để giữa sân khấu, ngồi xuống, theo tuồng là để nghỉ trước khi hát lớp chót. Bà không đứng dậy nữa. Cái mặt nạ rớt xuống ván, nứt một đường dưới mắt trái.
– Lớp chót đó ông cố con soạn riêng cho bà, không chép ra giấy, trong đầu ổng với bà biết thôi. Bà đi rồi, ổng không chịu dạy lại cho ai. Từ đó tuồng Ngọc Nữ hát tới cổng đình là tắt đèn. Cô đứng đó, ấn còn ôm trên tay. Không ai coi được cái kết.
Năm Bính Ngọ, một chín sáu mươi sáu, cô Ba Lài đội. Tới đêm thứ sáu, cô hát nửa câu thì mất tiếng. Không ho, không sốt, tự nhiên tiếng biến đâu mất. Cô sống thêm ba mươi lăm năm nữa, bán tạp hoá ở chợ Rạch Gáo, chưa bao giờ hát lại một câu.
– Cô Ba Lài mất rồi hả ông? – Ngò hỏi.
– Mất năm hai ngàn lẻ một. Già mà mất. Mà con nghe nè, Bính Ngọ đó. Năm nay cũng Bính Ngọ. Đúng một vòng sáu chục năm.
Ngò rùng mình, quay ống kính qua Thoa. Thoa đưa tay che. Con nhỏ lật đật quay lại.
Năm Mậu Thìn, một chín tám mươi tám, cô Chín Lựu đội. Tới đây ông Sáu Kình ngưng nhai trầu. Ông nhìn ra con rạch một lúc.
– Lựu hát hay nhứt trong mấy người đội vai đó. Hay hơn má con nữa, Thoa à, ông nói thiệt. Đêm thứ sáu ở đình Tân Thạnh, cù lao sông Hậu, hát xong, khuya Lựu xuống xuồng qua bờ bên kia thăm bà con. Sáng ra người ta thấy chiếc xuồng trôi lật úp ở bãi bồi. Kiếm ba ngày ba đêm. Không thấy.
– Vậy đâu phải đêm thứ bảy. – Thoa nói.
– Thì cô Lựu có tới được đêm thứ bảy đâu.
Câu đó ông nói bằng giọng bình thường, vậy mà cả cái sân nắng chang chang tự nhiên lạnh hẳn đi.
Người thứ tư ông không kể. Ông nhìn Thoa, Thoa nhìn ông, rồi ông chép miệng, cúi xuống lấy thêm miếng trầu.
Thoa đi rửa mặt ở lu nước sau hè. Nước lu mát lạnh, có mấy con lăng quăng bơi lên xuống. Cô vốc nước lên mặt ba lần, rồi đứng nhìn cái bóng mình méo mó trên mặt nước.
Bốn người trong bảy mươi năm. Cô là giáo viên âm nhạc, không phải dân toán, nhưng cô biết đếm. Bốn người đều chạm vào lời nguyền, nhưng chuyện của mỗi người một kiểu, mỗi người một lý do có thể có. Một người đau tim. Một người hư dây thanh. Một người lật xuồng. Một người té. Cô đã tự nói với mình mấy câu như vậy suốt mười sáu năm nay, trên xe buýt, trong phòng giáo viên, những đêm nằm trên gác nhà dì Bảy nghe mưa Sài Gòn gõ mái tôn.
Rồi cô nhớ tới hai chữ trong lòng mặt nạ. Kiều Thoa.
Khi cô quay vô thì ông Năm Khương đã ngồi ở bộ ván gian giữa, bà Tám Liên đứng bên cạnh, mặt cúi gằm. Thằng Đờn cũng đã về. Hồi khuya anh về lúc nào Thoa không hay. Anh to con hơn cô nhớ, da đen như cột nhà cháy, tóc cạo sát, mặc áo thun xám có in hình con cọp đã bong tróc. Thấy cô, anh đứng bật dậy, rồi lúng túng không biết làm gì với hai cánh tay.
– Bé Thoa.
– Anh Đờn.
Anh định ôm cô, nhưng liếc qua ông Năm, lại thôi. Anh vỗ vai cô hai cái, nặng như vỗ vai đàn ông.
– Tám nó kể rồi. – Ông Năm nói, giọng khàn. – Đem ra đây.
Bà Tám mở rương. Lần này giữa ban ngày, nắng xiên qua khung cửa, chiếc mặt nạ nằm trên vải điều trông chỉ như một món đồ cũ, nước sơn có chỗ đã sần, quai vải đỏ phai thành màu gạch. Ông Năm không đụng vào. Ông bảo Thoa lật lên cho ông coi.
Ông nhìn dòng chữ dưới tên má cô rất lâu.
– Thằng nào giỡn mặt?
Không ai trả lời. Ông quay qua Đờn.
– Mầy hả?
– Con đâu có biết chữ đẹp vậy, ông. – Đờn nói, mặt đỏ lên. – Con viết tên con còn không ngay hàng.
– Thằng Ba?
Chú Ba Trọng đứng ở ngưỡng cửa buồng, tay cầm cái ly trà. Chú bước tới nhìn, rồi lắc đầu.
– Rương này chìa khoá chị Tám giữ từ năm đó tới giờ. Con chưa mở lần nào.
– Mực cũ rồi. – Thoa nói. – Ngoại nhìn coi. Mực này đâu phải mới viết. Nó cùng màu với tên má con.
Ông Năm không nhìn nữa. Ông nhắm mắt lại. Hai bàn tay ông đặt trên đầu gối, gân xanh nổi như rễ cây.
Thoa cúi xuống chiếc mặt nạ. Cô làm một việc cô đã nghĩ suốt đêm qua. Cô đưa đầu ngón tay trỏ chạm vào giọt lệ vàng dưới khoé mắt trái.
Hồi nhỏ, trước mỗi đêm diễn, má hay cho cô làm việc đó. Má ngồi trước gương, chiếc mặt nạ đặt trên đùi, má cầm ngón tay cô đặt lên giọt lệ, nói "Con xin cô đi, xin cô cho má hát hay". Cô nhớ rất rõ cái cảm giác đầu ngón tay mình chạm vào: vệt vàng gồ lên, sần sần, như đường chỉ khâu trên đầu gối mỗi lần cô té trầy chân được bà Tám khâu vá quần. Cô nhớ mình hay miết tới miết lui, má phải gạt tay ra.
Bây giờ đầu ngón tay cô trượt trên giọt lệ như trượt trên mặt kính. Láng bóng. Phẳng lì.
Cô miết lại lần nữa. Vẫn vậy.
– Con làm gì đó? – Bà Tám hỏi.
– Giọt lệ này… hồi xưa nó gồ lên mà bà?
Bà Tám ngơ ngác.
– Bà đâu có rờ nó, con. Đào rờ chớ bà rờ chi.
Thoa rụt tay về. Mười sáu năm. Trí nhớ của đứa con nít mười tuổi đâu có gì chắc chắn. Có thể cô nhớ nhầm vết khâu trên đầu gối với cái gì khác. Có thể đầu ngón tay một đứa nhỏ thấy cái gì cũng to, cũng gồ.
Cô đặt mặt nạ xuống, nhưng cảm giác láng lạnh ấy cứ dính trên đầu ngón tay, cả buổi sáng không chịu đi.
Gần trưa, điện thoại của ông Năm reo. Ông cầm máy đi ra sân, đứng dưới gốc gáo. Thoa ngồi lựa rau với chị Hai Ngộ ở hiên, nghe được từng chặp.
– Dạ, anh Bửu… Rằm tháng Ba, tôi nhớ mà… Không, gánh đi đủ bảy đình… Anh khỏi lo, tôi không để anh thiệt đồng nào… Hai cái rương đó tôi không bán. Tôi nói rồi, không bán…
Ông tắt máy, đứng yên một lúc, tay chống vô gốc cây. Rồi ông móc trong túi áo ra một vỉ thuốc, bẻ một viên bỏ vô miệng, nuốt khan.
– Ông Bửu đó là ai vậy chị? – Thoa hỏi nhỏ.
– Ông chủ tiệm đồ cổ dưới Chợ Lớn. – Chị Hai Ngộ nói, tay vẫn tước cọng rau muống. – Ổng mê đồ hát bội lắm. Mấy năm nay ổng hỏi mua hai cái rương hoài, ông Năm không bán. Rồi năm rồi xe tải hư, nợ lương anh em mấy tháng, ông Năm phải mượn ổng. Ổng cho mượn liền, lãi thấp, mà đòi cầm hai cái rương. Người ta làm ăn mà em.
Chiều đó, gánh tập tuồng thầy cho đêm đầu ở Vĩnh Phước. Chú Ba Trọng hát vai kép võ, cái giọng chú vẫn còn ngon, lên cao không bể. Ông Sáu Kình đánh trống chiến, chú Út Bền thổi kèn, Sển kéo đờn cò. Sển kéo được, kéo khá, tay nắn phím chắc, có điều hay kéo nhanh hơn nhịp trống một chút, ông Sáu phải gõ dùi lên tang trống nhắc.
Thoa ngồi coi trên bậc thềm. Ngò ngồi bên cạnh, thì thầm:
– Chị Thoa. Nếu chị không đội thì chắc ông Năm bắt em đội. Ông nói giọng em cao mà mỏng, đội mặt nạ vô thì tiếng nó không bể ra được. Mà em… em sợ lắm chị ơi.
Thoa nhìn con nhỏ. Mười chín tuổi, tóc nhuộm, móng tay sơn hồng nhạt, cả ngày cầm điện thoại. Nó sợ thật. Nó không giấu được.
– Ông Năm không bắt em đâu. – Cô nói. – Ông tính tự đội.
– Ông đội thì… – Ngò ngập ngừng. – Thì ông không qua được đêm thứ bảy, phải không chị?
Thoa không trả lời. Cô đứng dậy, đi ra giữa sân, đúng chỗ thằng Tồ vừa tập thương xong còn hằn dấu chân.
Cô không định làm vậy. Cô chỉ định đứng đó cho đỡ bức bối. Nhưng tiếng trống của ông Sáu vừa dứt một hồi, kèn còn ngân một chút ở cuối, và có cái gì đó trong người cô tự mở ra.
Cô nói lối trước, mấy câu Ngọc Nữ đứng ngoài cổng đình, giọng trầm và chậm, như người đi đường xa mỏi gối. Rồi cô lên câu ra, câu mà ai trong gánh Phước Xuân cũng thuộc, đứa nhỏ nhứt cũng ư ử được:
– Đình ơi, mở cửa cho con về.
Chữ "về" cô kéo dài, để nó rơi xuống thấp, thấp tới tận đáy, rồi nhấc lên một chút ở cuối, như sóng chạm bờ rồi rút.
Tiếng đờn cò của Sển tắt ngang. Chú Út Bền hạ kèn. Ông Sáu Kình cầm dùi trống trong tay, không đánh. Thằng Tồ đứng sững ở góc sân. Chú Ba Trọng ngồi trên cái ghế đẩu, hai tay chống gối, cúi đầu xuống, không ai thấy mặt chú.
Chị Hai Ngộ ở trong bếp chạy ra, tay còn cầm cái vá.
Thoa hát thêm hai câu nữa, rồi dừng. Cả sân im phăng phắc. Một con gà mái dẫn bầy con đi ngang qua, kêu cục cục, nghe to như tiếng người.
Ông Năm đứng ở ngưỡng cửa. Thoa không biết ông đứng đó từ lúc nào.
– Ai dạy con hát vậy? – Ông hỏi.
– Má con.
– Má con hát chữ "về" không phải vậy.
– Con biết. Con hát kiểu của con.
Ông Năm im một lúc lâu. Rồi ông nói, giọng không còn cộc như hôm qua, chỉ còn mệt.
– Gánh này không còn đứa nào hát vai đó nổi. Con Ngò hát thì người ta cười. Ông hát thì người ta thương hại. – Ông dừng lại thở. – Con muốn đội thì đội. Nhưng con hứa với ông một chuyện.
– Ngoại nói đi.
– Con hát tới đêm thứ sáu thôi. Hát xong đêm thứ sáu ở Tân Thạnh, con giao lại mặt nạ cho ông. Đêm thứ bảy ở Mù U, ông đội.
– Ngoại…
– Không thì con về Sài Gòn. Ông kêu xe ôm liền bây giờ.
Thoa nhìn ông. Ông nhìn lại cô bằng đôi mắt đục mà vẫn còn sắc, cặp mắt đã nhìn bao nhiêu đêm hát, bao nhiêu kép đào lên xuống sân khấu, bao nhiêu cái chết.
– Dạ. – Cô nói. – Con hứa.
Cô hứa một câu mà cô biết mình sẽ không giữ.
Đêm đó, gần một giờ sáng, Thoa thức giấc vì khát nước. Cô đi ngang gian giữa ra sau bếp. Ngọn đèn dầu trên bàn thờ Tổ vẫn cháy, nhưng có một bóng người ngồi xếp bằng ngay trước bàn thờ, quay lưng ra cửa.
Cô đứng sững.
Cái lưng gầy. Cái áo bà ba trắng ngả màu ngà. Ông ngoại.
Nắp rương sơn đen mở toang. Ông Năm ngồi đó, hai tay đặt trên đầu gối, đầu hơi ngửa lên. Trên mặt ông là chiếc mặt nạ Ngọc Nữ. Quai vải đỏ buộc vòng ra sau mái tóc bạc lơ thơ.
Ông lắc lư người, chầm chậm, qua trái, qua phải, như đang hát. Môi ông hẳn đang mấp máy sau lớp gỗ, nhưng không có một tiếng nào thoát ra. Chỉ có tiếng ếch nhái ngoài rạch, tiếng tim đập trong tai Thoa, và ánh đèn dầu lắc lư trên đôi môi gỗ hé mở. Cô có cảm giác cái mặt nạ mới là cái đang hát, còn ông ngoại cô chỉ là người nghe.
— Hết chương 2 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe