AI Truyện
Đêm thứ bảy của mặt nạ Ngọc Nữ

🕯️ Truyện ma kinh dị

Người thứ ba thấy

Đêm thứ bảy của mặt nạ Ngọc Nữ · Chương 29/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 29: Người thứ ba thấy

Cái ghế bố của ông Năm kê ở đầu hồi nhà võ ca, sát vách, chỗ nhìn ra được cả bãi đậu xe lẫn cái gác chuông. Mười sáu năm trước, ông cũng kê nó đúng chỗ này. Thoa biết vì cô hỏi bà Tám, và bà Tám trả lời liền, không cần nhớ: "Năm nào về Tân Thạnh ổng cũng nằm chỗ đó. Ổng nói nằm đó nghe được tiếng sông."

Năm giờ sáng mười hai tháng Hai, trời còn xám. Ông Năm đã thức. Ông ngồi trên ghế bố, khoác cái áo gió màu cứt ngựa, hai tay đặt trên đầu gối. Ông không nhìn cái gác chuông. Ông nhìn Thoa đang đi tới.

– Ông nghe tiếng chuông. – Ông nói trước khi cô kịp mở miệng. – Ông nghe con chạy ra. Ông ngồi đây chờ con về.

– Ngoại ngồi đây hồi đó.

Ông Năm im lặng. Ông nhìn xuống hai bàn tay mình, gân xanh nổi cuồn cuộn, đốm đồi mồi lấm tấm.

– Thằng Ba nói với con rồi.

– Chú nói chú chạy về xe khách, ngó qua đây. Chú nói ngoại ngó chú. Rồi ngoại quay mặt đi.

– Ừ.

Một chữ. Như cái hôm ở Phước Lý cô nói cô gặp cô Chín Lựu. Như người đặt xuống một gánh nặng.

– Ông không có ý kể với con ở đây. – Ông nói. – Ông tính kể ở trước bàn thờ Tổ. Kể cho cả gánh. Con đi kêu mọi người dậy đi.

Sáu giờ, cả gánh Phước Xuân ngồi trước cái bàn thờ Tổ nhỏ mà ông Năm dựng tạm trong nhà võ ca đình Tân Thạnh. Một bát nhang, hai ngọn đèn dầu, một đĩa trái cây, hai cái rương đặt bên dưới. Ông Năm ngồi trên cái ghế đẩu, quay lưng về phía bàn thờ. Chú Ba Trọng ngồi bệt dưới sàn xi măng, ngay trước mặt ông, không trải chiếu. Mấy người khác ngồi thành vòng cung. Ông Sáu Kình. Bà Tám. Chú Út Bền, chị Hai Ngộ. Ngò với thằng Tồ. Thụ ngồi ở góc, lần này không bấm máy ghi âm. Đờn ngồi gần chú Ba nhứt, hai tay ôm đầu gối, mắt đỏ, cả đêm không ngủ.

Bà Mười Gừng đứng ở cửa nhà võ ca. Ông Năm đã sai thằng Tồ chạy xuống xóm cuối kêu bà lên. Bà đứng đó, không bước vô, như người không chắc mình có được ngồi chung hay không.

– Vô đi Lựu. – Ông Năm nói. – Chuyện này có phần của mầy.

Chú Ba kể trước. Chú kể lại hết những gì chú kể với Thoa trên gác chuông, ngắn hơn, không ngừng lại. Ông Bửu, ba chục triệu, ông thợ sơn ở miệt Thủ, cái gói máng trên cây đinh, má con chạy vô đình, cái lan can, sợi dây chuông. Cái áo mưa cam quăng dưới băng ghế chót. Cái bàn thờ nhỏ ở dãy trọ chợ Rạch Gáo. Đình Tân Lộc bốn giờ sáng.

Khi chú nói tới chỗ "Chú không kêu ai", chị Hai Ngộ bật khóc. Chú Út Bền ôm lấy vai vợ, mặt cúi gằm. Ngò bụm miệng. Thằng Tồ nhìn chú Ba như nhìn một người lạ.

Đờn không khóc. Anh ngồi im, nhìn chú Ba. Lúc chú Ba nói tới cái áo mưa, anh nhắm mắt lại, rồi mở ra.

Bà Tám không nghe hết. Giữa chừng bà đứng dậy, đi tới cái rương sơn đen, quỳ xuống. Thoa tháo sợi dây có cái chìa khoá trên cổ đưa cho bà. Bà mở rương, lấy chiếc mặt nạ thật ra, lật mặt trong lên. Lần đầu tiên trong mười sáu năm, bà nhìn vô đó. Bà nhìn dòng chữ "Út Lệ – Canh Dần", nhìn dòng chữ "Kiều Thoa" bên dưới, nhìn vệt nâu sẫm sát mép mẻ. Bà đưa một ngón tay khô như lá chuối lên, sờ vô dòng tên con Lệ.

– Nó viết đẹp. – Bà nói nhỏ. – Hồi nhỏ nó viết xấu hoắc, bà bắt nó tập. Giờ nó viết đẹp.

Chú Ba kể xong, cúi đầu lạy ba lạy trước bàn thờ Tổ, trán chạm xuống sàn xi măng. Rồi chú ngồi im.

Ông Năm đợi một lúc. Rồi ông nói. Ông nói bằng cái giọng khàn, cộc, ít lời, mà đây là lần đầu Thoa nghe ông nói nhiều như vậy một mạch.

– Đêm đó ông không ngủ. Ông nằm đây. Ông nghe tiếng chuông. Ông ngồi dậy. Ông thấy thằng Ba chạy từ phía bến về, khoác cái áo mưa cam, ôm cái gói, tay trái ôm tay phải, máu nhỏ giọt. Nó ngó ông. Ông ngó nó.

Ông ngừng lại.

– Ông biết có chuyện. Ông không biết chuyện gì. Ông không hỏi. – Ông nói. – Sáng ra người ta la. Con Lệ nằm dưới chân gác chuông. Ông quỳ trong mưa ôm nó. Ông ngó lên, ông thấy thằng Ba đứng ở sau xe khách, tay quấn cái khăn rằn. Nó ngó ông.

– Ông không hỏi nó lần nào. Mười sáu năm. – Ông Năm nói. – Ông nói với mình, chắc nó đánh lộn với ai. Chắc nó té ở đâu. Cái gói đó chắc đồ riêng của nó. Ông nói vậy với mình cho tới khi ông tin. Ông mất con Lệ rồi. Mất thằng Ba nữa thì gánh chết. Ông giữ gánh.

Không ai nói gì. Ông Sáu Kình nhổ bã trầu vô cái lon sữa bò, chậm rãi.

– Cái áo mưa cam. – Ông Năm nói, quay qua Đờn. – Sáng đó mầy la mất áo mưa. Người ta kiếm ra dưới băng ghế xe khách. Ông nghe. Ông biết. Mầy say, mầy không nhớ. Rồi mười sáu năm mầy cứ ngồi tự hỏi có phải mầy không. Ông thấy mầy hỏi. Ông không nói gì.

Đờn ngước lên nhìn ông. Hai mắt anh đỏ hoe mà không có nước mắt.

– Ông nuôi con. – Anh nói.

– Ông nuôi mầy. Rồi ông để mầy mang cái đó. – Ông Năm nói. – Ông xin lỗi mầy.

Đờn không trả lời. Anh cúi mặt xuống đầu gối.

Thoa ngồi nhìn ông ngoại. Cô thấy cơn giận trong người mình nổi lên từ từ, không ồn ào, như nước lớn dâng vô con rạch, im lặng mà không cản được.

– Ngoại giữ gánh. – Cô nói. Giọng cô run lên. – Ngoại giữ cái gánh, mà để má con nằm dưới mưa tới sáng.

Ông Năm nhìn cô.

– Ừ. – Ông nói.

Ông không cãi. Ông không giải thích. Ông ngồi đó nhận cái câu đó như người ta đứng ngoài mưa nhận nước mưa.

Rồi ông quay qua bà Mười Gừng, đang ngồi sát cửa, đôi tay có vết sẹo bỏng siết chặt lấy vành nón.

– Còn một chuyện. – Ông nói. – Lựu, mầy cho tao nói.

Bà Mười nhìn ông. Rất lâu. Rồi bà gật đầu.

– Năm Mậu Thìn, ông sắp chiếc ghe chài cho con Lựu. – Ông Năm nói, nhìn thẳng vào ông Sáu Kình. – Ông nhờ thằng Tư Ghe, bạn ông, đậu ghe tắt đèn ở đầu doi. Ông dặn nó chở con Lựu xuống xóm cuối cù lao. Rồi ông đi kiếm với cả gánh ba ngày ba đêm. Ông kêu tên nó dọc bờ sông. Ông biết nó nằm dưới khoang ghe.

Ông Sáu Kình đứng bật dậy. Cái lon sữa bò bên chân ông lăn lông lốc, bã trầu đỏ văng ra sàn xi măng.

– Anh biết. – Ông Sáu nói. Giọng ông sang sảng thường ngày giờ vỡ ra từng mảnh. – Anh biết ba mươi tám năm. Tui lặn ngụp dưới sông ba ngày, tay chân sưng phù, anh đứng trên bờ coi tui lặn. Đêm ba mươi Tết tui bồng thằng nhỏ vô, anh đứng ở hiên coi tui bồng. Năm chín mươi có cái phong bì gửi về nhà Tổ, chính tay anh cầm vô đưa tui. Anh biết.

– Tao biết.

– Tại sao?

– Tại tao hứa với nó. – Ông Năm nói. – Nó quỳ trước mặt tao, nó nói nó thà chết chớ không về làm vợ thằng Ba Phó. Ông già tao gật đầu gả nó, tao không cãi ông già được. Tao chỉ sắp được chiếc ghe. Nó bắt tao hứa không nói với ai. Không nói với mầy. Nó nói mầy biết thì mầy đi theo nó, mầy bỏ gánh, ông Ba Phó đòi nợ, gánh chết.

– Tui biểu ổng hứa. – Bà Mười nói. Bà vẫn ngồi sát cửa, không đứng dậy. – Anh Sáu, tui biểu ổng hứa. Anh muốn giận thì giận tui.

Ông Sáu Kình đứng đó, hai tay nắm chặt, nhìn từ ông Năm sang bà Mười, từ bà Mười sang ông Năm. Rồi ông quay lưng, đi thẳng ra cửa. Lúc đi ngang bà Mười, ông dừng lại một chút, không cúi xuống, không nói gì. Rồi ông đi ra bến.

Bà Mười nhìn theo. Rồi bà quay lại, nhìn Đờn.

Đờn vẫn ngồi gần chú Ba, hai tay ôm đầu gối. Anh ngẩng lên. Hai mẹ con nhìn nhau qua cái nhà võ ca, qua cả gánh đang ngồi im.

Bà Mười đứng dậy. Bà đi tới, chậm, cái lưng còng xuống một chút, đôi dép nhựa lẹp xẹp trên sàn xi măng. Bà quỳ xuống trước mặt anh. Bà đưa hai bàn tay ra, bàn tay phải lành lặn, bàn tay trái có vết sẹo bỏng, áp lên hai bên mặt anh, như người ta nâng một cái chén.

– Không phải mầy. – Bà nói. – Mười sáu năm tui tưởng là mầy. Không phải mầy.

Đờn nhìn bà. Môi anh mấp máy mấy lần mà không ra tiếng gì. Rồi anh cúi đầu xuống, tựa trán lên vai bà, cái trán to bè của một người đàn ông ba mươi bảy tuổi tựa lên cái vai gầy của một bà già. Hai vai anh rung lên.

Một lúc lâu, anh mới nói, giọng nghẹt, nhỏ, như con nít:

– Má ăn gì chưa?

Bà Mười bật cười. Bà vừa cười vừa khóc.

– Chưa. Tui chưa ăn gì hết.

Chị Hai Ngộ đứng dậy, chùi nước mắt bằng vạt áo, đi ra sau bếp. Một lát sau có tiếng nồi niêu khua lốp cốp.

Trưa đó, Thoa mang ra bến cho ông Sáu Kình một chén cơm với mấy khúc cá kho. Ông ngồi trên cầu tàu, hai chân thòng xuống nước, cái nón vải bộ đội úp trên đầu gối. Ông không ăn. Ông nhìn chiếc ghe chở lúa chạy ngang.

– Ba mươi tám năm ông giận ông trời. – Ông nói, không quay lại. – Giận con sông. Giận thằng cha Ba Phó. Giận cái mặt nạ. Giận mà không biết giận ai cho đúng.

Ông lấy một miếng trầu trong túi áo, têm vôi, nhét vô miệng.

– Giờ có người cho ông giận đàng hoàng rồi. – Ông nói. – Mà ông ngồi đây cả buổi, ông giận không nổi. Ổng sắp cái ghe đó, con Lựu mới sống. Ổng không sắp thì con Lựu đi làm vợ thằng cha lò gạch, hoặc con Lựu chết thiệt. Ông giận cái gì?

Thoa ngồi xuống bên cạnh ông, cũng thòng chân xuống nước. Nước sông Hậu buổi trưa ấm, đục, chảy qua mắt cá chân cô.

– Ông giận vì ổng không nói với ông.

– Ừ. – Ông Sáu nói. Ông nhai trầu, chậm rãi. – Mà con Lựu cũng không nói. Hai người đó giữ cho nhau một cái miệng. Ông thì giữ một lọn tóc. – Ông cười khan. – Cả cái gánh này ai cũng giữ một cái gì đó. Giữ riết rồi quên mình giữ để làm chi.

Ông cầm chén cơm lên, ăn một miếng.

Tối mười hai, gánh hát tuồng thầy đêm cuối ở Tân Thạnh. Hợp đồng ba đêm, phải hát đủ. Chú Ba Trọng hát kép võ. Chú hát hay, như mọi đêm. Bà con cù lao không biết gì, vỗ tay rần rần. Ông Sáu Kình ngồi đánh trống chiến, không nhìn chú Ba lần nào. Nhưng ông vẫn đánh đúng nhịp cho chú.

Gần nửa đêm, tan hát, Thoa ngồi một mình ở bậc thềm nhà võ ca. Ông Năm chống gậy đi ra, ngồi xuống cạnh cô. Hai ông cháu không nói gì một lúc lâu. Trăng mười hai gần tròn, sáng vằng vặc trên sông Hậu.

– Con giận ông. – Ông Năm nói.

– Dạ.

– Giận thì giận. – Ông nói. – Ông chịu.

Ông im một lúc.

– Đêm thứ bảy, con muốn đội thì đội. Ông không giành nữa. – Ông nói. – Mà con cho ông một chuyện.

– Chuyện gì ngoại?

Ông Năm nhìn ra sông, nhìn về phía nam, nơi dòng sông Hậu chảy về mũi đất tận cùng.

– Cho ông ngồi hàng đầu. – Ông nói. – Ngay dưới chân sân khấu. Như năm ông mười tuổi.

— Hết chương 29 —

Mục lục Đêm thứ bảy của mặt nạ Ngọc Nữ

  1. 1Tên trong lòng mặt nạ11 phút
  2. 2Giọt lệ vàng11 phút đọc
  3. 3Xin keo trước bàn thờ Tổ11 phút đọc
  4. 4Trống chầu lúc nửa đêm10 phút đọc
  5. 5Trăng đỏ đêm rằm10 phút đọc
  6. 6Chén chè gừng10 phút đọc
  7. 7Đôi hài đầy cát10 phút đọc
  8. 8Bàn tay trên gương10 phút đọc
  9. 9Người đánh trống chầu10 phút đọc
  10. 10Đất đỏ Tân Lộc10 phút đọc
  11. 11Hai gương mặt trên bàn thờ10 phút đọc
  12. 12Tiếng chầu chê10 phút đọc
  13. 13Lời ông ngoại10 phút đọc
  14. 14Người đàn bà bán chè10 phút đọc
  15. 15Cái khăn viền chỉ bạc10 phút đọc
  16. 16Đèn dầu đêm không trăng10 phút đọc
  17. 17Phòng trọ cạnh chợ Phước Lý10 phút đọc
  18. 18Bà Mười Gừng10 phút đọc
  19. 19Lời kể của người chết đuối12 phút đọc
  20. 20Thằng con không nhớ gì11 phút đọc
  21. 21Lọn tóc buộc chỉ đỏ11 phút đọc
  22. 22Cây thang tre10 phút đọc
  23. 23Cái bẫy trong xe tải11 phút đọc
  24. 24Giấy nợ11 phút đọc
  25. 25Cù lao Tân Thạnh11 phút đọc
  26. 26Mép gỗ bị mẻ10 phút đọc
  27. 27Một tiếng chuông10 phút đọc
  28. 28Lời Ba Trọng11 phút đọc
  29. 29Người thứ ba thấy11 phút đọc
  30. 30Giỗ má10 phút đọc
  31. 31Đường xuống rừng đước10 phút đọc
  32. 32Ghế bà Bảy10 phút đọc
  33. 33Ông ngoại thay áo10 phút đọc
  34. 34Lớp chót11 phút đọc
  35. 35Hai giọng trong băng10 phút đọc
  36. 36Chén chè ở mép sân khấu10 phút đọc

Về truyện này

Đêm thứ bảy của mặt nạ Ngọc Nữ là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tín của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →