Chương 5: Trăng đỏ đêm rằm
– Bà đó đẹp lắm. – Bà Thiệt nói. – Mà bà đó không đẹp kiểu đào hát. Bà đẹp kiểu người hiền.
Căn nhà của bà Thiệt nằm cuối làng, sát chân núi, mái ngói thấp lè tè, trước sân phơi mấy nong cá cơm trắng bạc. Sáng rằm tháng Giêng, Thoa và Thụ ngồi trên hai cái ghế đẩu thấp dưới mái hiên, nghe bà kể. Cháu dâu bà pha một ấm trà xanh đặc, rót ra mấy cái chén mẻ miệng.
Bà Thiệt ngồi trên bộ ván, hai chân xếp bằng, lưng gập xuống gần chạm gối. Mắt bà đã mờ đục như nước vo gạo, nhưng giọng còn rõ, chữ nào ra chữ nấy.
– Hồi đó tui hai mươi tuổi, chưa chồng. Ông chánh bái biểu tui bưng nước cho gánh hát. Tui bưng nước ba ngày. Bà Bảy Ngọc cho tui một cây kẹp tóc có gắn hột cườm xanh. Tui giữ tới năm bảy mươi mấy mới làm mất.
– Bà có nghe bà Bảy Ngọc hát lớp chót không bà? – Thoa hỏi.
Bà Thiệt im một lúc, như đang lục tìm trong một cái rương cũ.
– Có một bữa. Rạng sáng. Tui ra bãi coi ghe về, thấy bà đi một mình dọc mé nước, chân không, ôm cái gói gì trước ngực, miệng ngâm nho nhỏ. Tui đứng sau bụi dương nghe. Bà ngâm có một câu. Rồi bà thấy tui, bà cười, bà nói "Con nghe lén hả". Tui mắc cỡ chạy về.
– Câu gì bà?
Bà Thiệt nhắm mắt. Đôi môi nhăn nheo mấp máy mấy lần trước khi phát ra tiếng. Rồi bà ngâm, giọng khàn, run, lạc cả điệu, nhưng chữ thì rõ:
– Trả ấn rồi, tay nhẹ như sương.
Thụ ngồi im, chiếc máy ghi âm trên đùi anh nhấp nháy đèn đỏ.
– Có một câu đó thôi. – Bà Thiệt mở mắt ra. – Mà tui nhớ hoài. Bà nói với tui, "Lớp chót này hát ra rồi thì cô Ngọc Nữ đi được. Mà ta sợ cô đi rồi, cô dắt ta theo". Tui hỏi bà sợ thì sao còn hát. Bà nói, "Thì người ta trả tiền cho mình hát, con".
Bà cười móm mém. Rồi bà không cười nữa.
– Một tháng sau, nghe người ta nói bà mất ở đình Mù U. Tui đi ra bãi, khóc một trận.
Lúc Thoa đứng dậy cảm ơn, bà Thiệt lại níu tay cô như tối hôm qua.
– Con nghe tui nè. Câu đó bà ngâm, bà không ngâm hết. Bà ngâm tới chữ "sương" là bà ngưng, bà nhìn ra biển. Như là bà chưa biết câu sau là gì.
Trên đường về đình, Thụ đi bên cạnh Thoa, mãi một lúc mới mở miệng:
– Cô có tin không? Bà cụ nhớ một câu ngâm từ bảy mươi năm trước?
– Bà nhớ cây kẹp tóc hột cườm xanh. – Thoa nói. – Người ta nhớ mấy cái vậy mới thiệt.
Buổi chiều, bà Tám Liên kêu Thoa vô buồng hoá trang.
Bà mở rương, nhấc chiếc mặt nạ lên đặt trên bàn, cạnh một nghiên mực tàu nhỏ và một cây bút lông. Bà không lật mặt trong ra. Bà đẩy nó về phía Thoa.
– Tên con có rồi. Ai viết thì bà không biết. Nhưng chưa có năm. Lệ là phải có năm.
Thoa lật chiếc mặt nạ. Cô nhúng bút, viết hai chữ "Bính Ngọ" bên cạnh tên mình. Nét chữ của cô nghiêng, nhỏ, khác hẳn những dòng chữ đều đặn phía trên. Viết xong, cô nhìn lại một lượt. Năm dòng tên. Năm người đàn bà. Hai trong năm đã viết năm Bính Ngọ.
Chiều hôm đó, trăng mọc đỏ.
Ông Tư Lẫy là người thấy trước. Ông đang ngồi dưới gốc bàng uống trà với ông Năm thì đứng phắt dậy, chỉ tay ra phía biển. Mặt trời vừa lặn sau lưng núi. Phía chân trời đằng đông, trên mặt biển xám bạc, một vầng trăng tròn đang nhô lên. Nhưng nó không trắng, không vàng. Nó đỏ thẫm, màu đồng hun, màu nước trầu ông Sáu Kình nhổ vô lon sữa bò.
– Thiên cẩu ăn trăng! – Ông Tư Lẫy la lên. – Bà con ơi, ra cứu trăng!
Cả làng ùa ra. Đàn bà cầm mâm nhôm, nồi đồng, con nít cầm vỏ lon, ông già cầm mõ. Họ gõ, họ đánh, tiếng kim loại loảng xoảng vang dội khắp bãi biển. Mấy ông già trong làng nhìn trời, lắc đầu, nói với nhau những câu gì đó Thoa nghe không rõ.
– Nguyệt thực toàn phần. – Thụ nói nhỏ bên tai Thoa. – Báo có đưa tin. Trăng mọc lên đúng lúc đang bị che kín. Chừng một tiếng nữa là sáng lại.
Thoa gật đầu. Cô biết. Cô cũng có đọc tin. Nhưng đứng trên bãi cát, giữa tiếng mâm nồi loảng xoảng, nhìn vầng trăng đỏ như hòn than lơ lửng trên mặt biển đen, cô thấy kiến thức trong đầu mình mỏng như một tờ giấy, gió thổi là bay.
Hơn bảy giờ, trăng bắt đầu sáng lại từ một mép, như có ai bóc dần lớp vỏ đỏ ra. Tiếng mâm nồi thưa dần. Ông Tư Lẫy ngồi vô sau trống chầu. Gánh Phước Xuân bắt đầu hát Hoàn Hồn Ngọc Nữ.
Trong buồng hoá trang, bà Tám Liên mặc áo cho Thoa.
Áo Ngọc Nữ bằng lụa trắng, may theo kiểu áo thụng, tay rộng, thêu chỉ bạc hình sóng nước dọc hai vạt và quanh cổ. Bà Tám thắt cho cô một sợi dây lưng màu xanh ngọc, choàng lên đầu cô một tấm khăn voan trắng mỏng viền chỉ bạc, để rủ xuống hai bên vai. Dưới chân là đôi hài thêu, mũi hài cong lên như mũi ghe. Cổ và hai bàn tay cô bà Tám thoa một lớp phấn trắng, để khớp với màu chiếc mặt nạ.
Trước khi đưa mặt nạ, bà Tám lấy trong túi áo ra một sợi chỉ đỏ, cột vô cổ tay trái Thoa, thắt ba gút, rồi kéo ống tay áo thụng xuống che lại.
– Hồi xưa bà cũng cột cho má con. – Bà nói nhỏ. – Cho cô biết con là người nhà. Người nhà thì cô thương.
– Đêm nào bà cũng cột cho má con hả bà?
Bà Tám không trả lời ngay. Tay bà vuốt vuốt ống tay áo trên cổ tay Thoa.
– Đêm thứ bảy, bà quên. – Bà nói. – Bà lo may lại cái viền áo bị sút, bà quên cột.
Rồi bà đưa chiếc mặt nạ cho cô.
Thoa cầm nó trên hai tay. Cô nhìn đôi môi hé mở, nhìn hai lỗ mắt đen. Cô đặt đầu ngón tay trỏ lên giọt lệ vàng. Láng. Lạnh. Cô nói nhỏ, không rõ mình nói với ai: "Con xin cô." Rồi cô úp nó lên mặt.
Mùi gỗ cũ, mùi sơn ta, mùi mồ hôi của những người đàn bà đã đội nó trước cô, tất cả ập vào mũi cô cùng một lúc. Thế giới thu lại thành hai lỗ hạt đậu. Hơi thở của cô dội ngược vào mặt, ấm, ẩm. Bà Tám buộc quai sau gáy cô, hai tay bà run run.
– Xong rồi con. – Bà nói. – Con đi đi.
Ông Năm đứng ở cánh gà. Ông không nói gì. Ông chỉ đưa tay chạm vào vai cô một cái, rồi rút lại như chạm phải lửa.
Trống chiến của ông Sáu Kình dồn ba hồi. Kèn chú Út Bền vút lên một câu dài, buồn như tiếng gọi người đi biển chưa về. Đờn kéo tấm màn.
Thoa bước ra.
Cô bước được đúng ba bước thì nghe cả sân đình ồ lên một tiếng.
Qua hai lỗ hạt đậu, cô nhìn sang chánh điện đình Vĩnh Phước, phía bên kia khoảng sân gạch. Những ngọn đèn dầu và những ngọn nến trên các bàn thờ, mười mấy ngọn lửa nhỏ mà hồi chiều ông Tư Lẫy thắp lên, cùng một lúc vụt tắt. Chánh điện chìm vào bóng tối. Chỉ còn ánh trăng vừa thoát khỏi bóng đỏ, nhợt nhạt, rọi xiên qua cửa.
Tiếng xì xào lan khắp sân. Có người đứng dậy. Có đứa nhỏ khóc ré lên.
Thoa đứng yên giữa sân khấu. Tim cô đập thình thịch trong lớp gỗ. Cô nghe sau cánh gà có tiếng chân chạy, tiếng ai đó thì thầm "Trời ơi". Cô nghe tiếng trống chiến của ông Sáu khựng lại nửa nhịp.
Rồi cô nhớ má. Má từng nói, đứng trên sân khấu thì chuyện gì xảy ra mình cũng phải hát, sân khấu sập thì hát cho tới khi rớt xuống đất.
Cô cất giọng nói lối.
Giọng cô đi qua lớp gỗ, trầm hơn, xa hơn, như không phải của cô. Cái sân đình đang xôn xao im dần, im dần, cho tới khi chỉ còn tiếng sóng và tiếng cô. Ông Sáu Kình bắt lại nhịp trống. Sển kéo đờn theo. Cô hát hết lớp đầu, lớp Ngọc Nữ ôm ấn đứng ở bờ sông nhìn giặc tới. Cô hát lớp thứ hai, Ngọc Nữ gieo mình xuống nước. Ông Tư Lẫy ngồi sau trống chầu đánh một tiếng "tùng", rồi một tiếng nữa, rồi một tiếng nữa.
Tới lớp áp chót, lớp Ngọc Nữ về đứng trước cổng đình, cô nâng cái hộp ấn bọc vải đỏ lên ngang ngực, nhìn thẳng ra sân.
– Đình ơi, mở cửa cho con về.
Đèn sân khấu tắt theo tuồng. Màn kéo lại. Hết.
Không ai vỗ tay. Bà con ngồi im phăng phắc, như còn đợi. Đợi cái lớp chót mà bảy mươi năm nay chưa ai được nghe.
Rồi tiếng trống chầu của ông Tư Lẫy vang lên, một hồi dài, dồn dập, toàn tiếng "tùng". Bà con mới vỡ ra, vỗ tay rần rần, la hét. Ai đó trong chánh điện đã thắp lại đèn.
Trong buồng hoá trang, bà Tám tháo quai mặt nạ cho Thoa. Khi lớp gỗ rời khỏi mặt, cô mới biết mặt mình ướt đẫm. Mồ hôi, cô nghĩ. Chắc là mồ hôi.
Ông Năm ngồi trên ghế đẩu, hai tay ôm đầu.
Đêm đó Thoa ngủ say như chết.
Rạng sáng mười sáu, cô bị đánh thức bởi tiếng la của thằng Tồ.
Nó đứng trước sân khấu, tay chỉ xuống sàn xi măng. Trời mới tờ mờ, biển màu chì, sương muối còn đọng trên mọi thứ. Từ bãi cát dưới chân gò, chạy lên qua sân gạch, tới tận mép sân khấu, là một hàng dấu chân.
Dấu chân trần. Ướt. Nhỏ, gầy, của một người đàn bà. Cát còn dính trong mỗi dấu, nước biển còn đọng trong lõm gót. Hàng dấu chân đi thẳng, không do dự, từ mé nước lên tới mép sân khấu, rồi dừng lại.
Không có hàng dấu chân nào đi ngược xuống.
Và ở mép sân khấu, đúng chỗ hàng dấu chân dừng, có một cái chén sành nhỏ, men nâu, đặt ngay ngắn. Trong chén là mấy viên chè trôi nước trắng ngà nằm trong nước đường gừng màu hổ phách, mấy sợi gừng thái chỉ nổi lềnh bềnh, rắc mè rang lên trên.
Bà Tám Liên bước ra, tay cầm cây đèn dầu nhỏ. Bà nhìn hàng dấu chân. Bà nhìn cái chén chè.
Cây đèn tuột khỏi tay bà, rơi xuống nền gạch, vỡ tan. Dầu hôi loang ra, ngọn lửa nhỏ liếm một chút rồi tắt.
– Cái này… – Bà Tám nói, giọng bà như bị ai bóp cổ. – Cái này hồi xưa chỉ có con Chín Lựu làm.
— Hết chương 5 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe